Ai Giết Anh Em Ngô Đình Diệm

HDQuanNhanCachMang

1. Định Mệnh Đã An Bài

Sáng sớm ngày 2-11-1963, sau một đêm dài không ngủ, trong lúc tiếng súng vẫn còn nổ lẻ tẻ đâu đây với nhiều đám khói tại trung tâm Sài Gòn, từ các máy thu thanh phát ra lời loan báo của phe đảo chính, đã hạ được dinh Gia Long thủ phủ cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng anh em ông Diệm đã trốn thoát.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, Đài phát thanh Sài Gòn loan một tin vắn tắt: “Anh em ông Diệm bị bắt tại Chợ Lớn, và đã tự tử“? Dư luận bàn tán xôn xao, phần đông nghi ngờ: Không tin anh em ông Diệm đã chết và nhất là không tin anh em ông Diệm tự sát. Vì ai cũng biết: Tổng thống Diệm là một trong những người ngoan đạo, mà Thiên Chúa cấm tự sát.
Trong khi ấy phe đảo chínhkhông cho biết thêm tin tức nào về cái chết của Diệm, Nhu. Và báo chí không dám nói rằng anh em ông Diệm bị giết.
Ngày 6-11- 1963, nhật báo New York Time in hình xác Tổng thống Diệm bị còng tay với lời chú thích “suicide with no hand” (tự sát không có tay) Có ý mỉa mai lời thông báo của phe đảo chính rằng anh em ông Diệm đã tự sát. Về sau, người ta đã có thể công khai nói rằng anh em cố Tổng thống bị giết.
Nhưng ai giết? Và ai ra lệnh giết?
Đó là một nghi vấn cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn phơi bày ra trước ánh sáng. Người viết không dám làm công việc của một sử gia, mà chỉ muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc soi sáng cho một giai đoạn gay go của lịch sử, một giai đoạn đầy những biến chuyển và bí mật.

GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG

Trước khi nhận định toàn bộ về con người Ngô Đình Diệm và chế độ của ông ta chúng tôi xin ghi lại những giây phút cuối cùng của cuộc đời một Tổng thống “Việt Nam Cộng hoà”. Nhân dịp tiếp các phái đoàn quân chính trong ngày 26-10-1963, Tổng thống Diệm, bằng một giọng ai oán, thoáng buồn ông nói: ” Chế độ này tuy còn nhiều khuyết điểm, cũng còn hơn nhiều chế độ khác… Người ta chê là độc tài nhưng chỉ ngại còn những thứ độc tài khủng khiếp hơn. Tôi tiến thì theo tôi, tôi lui thì bắn tôi, tôi chết thì trả thù cho tôi”.
Trong thời gian này tinh thần của Tổng thống Diệm đang trải qua cơn dao động cực độ. Những nhân vật gần ông đều nhận thấy ông trở nên nóng nảy bất thường, hay thở dài, nét mặt đăm chiêu thoáng buồn. NgoDinhDiem8aCó lẽ Tổng thống Diệm đã linh cảm được tai hoạ sắp đến với ông ta, gia đình và chế độ.
Ông Ngô Đình Nhu lại càng biểu hiện một cách mau chóng. Ông Nhu già hẳn đi, nét mặt chảy dài. Bức hình của ông Nhu đăng trên tuần báo Express số 909 – (15-12-1968) chính là mấy bức hình chụp vào những ngày cuồi cùng trong đời ông. Khuôn mặt ông Nhu càng in một vẻ căm giận cùng với vẻ đẹp của đường nét điêu khắc.Tuy nhiên ông Nhu vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh và sẵn sàng đối phó…NgoDinhNhu
Sáng sớm ngày 30-10-1963 ông Diệm lững thững đi xuống vườn hoa trước cửa dinh Gia Long, ngắm mấy chậu non bộ nhỏ mới đắp xong và đặt dưới gốc cây. Ông bận bộ đồ xám nhạt, đội mũ len chống chiếc ba toong như khi đi thăm địa điểm dinh điền. Ông ngắm vài phút ngó lên bức ảnh lớn của ông treo cao đằng sau bàn giấy của ông Đổng Lý Bộ phủ Tổng thống rồi mỉm cười lên lầu.

TIẾP KHÁCH LẦN CUỐI

Ngày 31-10, hầm trú ẩn xây trong dinh Gia Long đã hoàn tất, để có thể chịu đựng được loại bom 500 kilôgam. Cũng vào ngày đó, ông Ngô Đình Nhu tiếp kiến các đại diện Uỷ ban Liên hiệp Bảo vệ Phật giáo. Cùng ngày phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật giáo miền Nam đáp máy bay ra Huế để tiếp tục cuộc điều tra. Đại sứ Cabot Lodge đã nhận được đầy đủ tin tức về kết quả và thái độ của Phái đoàn này tại Sài Gòn và thấy rằng sẽ bất lợi cho những toan tính âm mưu của ông.
Vụ đàn áp Phật giáo phải được duy trì để lấy cớ lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm như ông Lodge mong muốn.
Sáng 1 nhằm vào ngày lễ các Thánh, côngsở đều được nghỉ, Tổng thống Diệm đã tiếp người bạn “đồng minh” Hoa Kỳ cuối cùng trong đời ông. Đó là Đô đốc Harry D.Felt, Tổng Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình dương. Đô đốc Harry D.Felt chắc hẳn biết rõ những gì xảy tới, trong mấy giờ nữa sẽ kết thúc chế độ của Tổng thống Diệm mà ông ta theo lễ nghi vẫn xưng tụng như một nhà lãnh đạo anh minh của miền Nam.

Hồi 13 giờ 30 súng bắt đầu nổ từ nhiều nơi trong đô thành…
Ai gây nên tiếng súng đó? Bắt đầu từ một thế lực nào? Tướng lãnh? Quần chúng? Mỹ?
Thực ra, những âm mưu lật đổ Tổng thống Diệm đã sắp đặt từ tháng 5-1963, rồi được âm thầm tiến hành…
Buổi tối ngày 28-10, do sự sắp xếp từ trước Trung tướng Trần Văn Đôn đã tiếp xúc bí mật với giới chức Mỹ tại nhà một nha sĩ([i]). Tướng Đôn luôn luôn nhắc nhở người Mỹ giữ bí mật hoàn toàn và không thảo luận vấn đề này với bất cứ một ai, ông ta đã cố gắng thuyết phục Đại sứ Cabot Lodge chấp nhận chương trình hành động của nhóm ông và làm như thế nào để Hoa Kỳ đồng ý cho bật đèn xanh càng sớm càng tốt.
Lúc đầu nhóm đảo chính dự định khai hoả vào ngày 31-10 (theo sự Trước nữa, nhóm đảo chính cùng với sự đạo diễn của mấy chuyên gia CIA đã dự định đảo chính nhân ngày kỷ niệm 26-10. Nhưng đêm 25-10 ông Nhu đã nhận được báo cáo đầy đủ: Nhóm đảo chính với các tướng Đôn, Minh ra tay hành động trong cuộc duyệt binh tại đường Thống Nhất vào sáng 25-10. Dịp này sẽ bắt sống Tổng thống Diệm và ông Nhu sau đó sẽ thanh toán dinh GiaLong và thành Cộng hoà. Vào phút chót, ông Sinh Trưởng phòng CIA toà Đại sứ Mỹ (người thay thế Đại tá Rieharson) đã thông báo kịp thời cho Lu Conein biết là chưa thể bật đèn xanh bởi có kẻ trong toà Đại sứ Mỹ tiết lộ cho ông Nhu.
Hiển nhiên là Cabot Lodge đã đóng vai trò một nhà “lãnh đạo” đứng bật đèn cho cuộc đảo chính 1-11-1963. Cabot Lodge được coi như tiếng nói có thẩm quyền của phe “Tự do” Harriman.
Những nguyên nhân nào khiến cho Mỹ phải gấp rút tìm mọi cách lật đổ chế độ Tổng thống Diêm? Hẳn nhiên, về phía Mỹ không phải là nguyên nhân Phật giáo. Đơn giản vì quyền lợi nước Mỹ trước hết. Cái gai chính yếu của Đại sứ Cabot Lodge cũng như Smith Conein và nhóm đảo chính là tướng Tôn Thất Đính. Làm sao nhổ được cái gai này?
Tuy nhiên, cho đến ngày 28-11 tướng Đôn có thể đã tạm yên tâm về mặt tướng Đính. Điều mà phe đảo chính lo ngại nhất là lực lượng đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung. Lực lượng này vẫn được coi như thành phần nòng cốt của chế độ Ngô Đình Diệm. Ngày 29-12, tướng Tôn Thất Đính với tư cách Tư lệnh Quân đoàn III (và từng là Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định) ra lệnh cho các đơn vị thuộc lực lượng đặc biệt di chuyển ra khỏi Sài Gòn. Đó cũng là một phần kế hoạch nhằm vô hiệu hoá những lực lượng trung thành với chế độ. Hơn nữa, tướng Đính đang được lòng tin cậy của ông Nhu.
Theo dư luận đồn đại sau ngày đảo chính, ngày 1-11-1963 thì chính ông Nhu đã giao phó cho tướng Đính thực hiện một cuộc đảo chính giả với danh hiệu Bravo I và II nhằm phá vỡ kế hoạch đảo chính thực của nhóm tướng lĩnh đang liên kết với Cabot Lodge.
Nếu thực sự cuộc đảo chính sẽ xảy ra, ông Nhu chấp nhận một cách không nghi ngờ việc tướng Đính “móc nối” với nhóm Đôn, Minh. Chính ông Nhu đã từng nói với tướng Huỳnh văn Cao: “Khánh với Đính là chỗ người trong nhà cả. Không lo”.
Ông Nhu tuy cao tay lắm nhưng đâu có thể học được chữ ngờ qua trường hợp của tướng Đính!
Tương kế tựu kế, tướng Đính nắm cơ hội này để quật ngược lại thế cờ Không có sự tham gia của tướng Đính, cuộc đảo chính 1-11-1963 không thể thành công. Cái lối của ông Nhu là cái lối của một nhà chiến thuật và chiến lược, nhìn và tiên liệu quá xa phạm vi hạn hẹp của chiến thuật, giai đoạn. Hơn nữa, vì lòng tin cậy, ông Nhu đã chọn nhầm một người mà chính trước đây ông Nhu cho là “khó xài” Nhưng vẫn sử dụng vì cho rằng mình cao tay ấn. Mặt khác, trước đó Đại tá Đỗ Mậu quyền Giám đốc Nha An ninh quân đội, một môn đệ tin cậy của Ngô Đình Diệm đã phúc trình cho hai ông Nhu, Diệm biết VC([ii]) đang tập trung tại vùng ven đô và âm mưu đánh phá Sài Gòn. Dĩ nhiên đây chỉ là bản phúc trình giả với mục đích làm lạc hướng theo dõi của chính quyền và đồng thời có cớ để phân tán một số đơn vị trung thành của Diệm ra khỏi Sài Gòn. Như vậy phe đảo chính sẽ giảm thiểu được sức chống đối của phe Chính phủ([iii]).
Hồi 12 giờ 30 ngày 1-11, tướng Trần Văn Đôn cùng một số tướng tá nòng cốt triệu tập Hội nghị trong Bộ Tổng Tham mưu với sự tham gia của hầu hết các tướng lãnh và một số Tư lệnh quân binh chủng. Tướng Tôn Thất Đính không có mặt trong Hội nghị này, lúc đó ông ta đang phải túc trực tại tổng hành dinh Quân đoàn III. Người thì cho rằng đến giờ phút quyết liệt, phe đảo chính vẫn chưa tin hẳn tưởng Đính. Và có lẽ đó cũng là lý do tướng Đính không có mặt trong Hội nghị quan trọng đó.

THIỆN CHÍ NHÀ GIÀU

Theo tiết lộ của Georges Chaffard qua bài báo tựa đề La paix manquée en 1963([iv]), để lôi kéo tướng Đính vào phe đảo chính, Mỹ đã trao cho tướng Đính một số tiền ứng trước là 1 triệu Dollars do kết quả sự thương lượng giữa tướng Đôn và Đại sứ Cabot Lodge ngày 24-10. Số tiền ứng trước này được coi là thiện chí cụ thể của Mỹ giúp phe đảo chính có chút phương tiện để thực hiện kế hoạch([v]).
Tưởng cũng nên nhắc lại, khoảng cuối tháng 10, dư luận trong chính giới và ngoại giao đoàn đã đồn đại về những hoạt động của nhóm mật vụ Pháp thuộc Sở “Hành Động” (Action) do tướng De Gaulle gởi qua Sài Gòn vì nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho hai anh em ông Diệm.
Sáng 1-2, Đại sứ Cabot Lodge hướng dẫn Đô đốc Felt đến dinh Gia Long thăm xã giao Tổng thống Diệm. Nhân dịp này Tổng thống Diệm đã Cabot Lodge biết. là đang có dư luận về một cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống. Ông Diệm nói như thế là có ý bảo cho ông Cabot Lodge biết, ông ta luôn luôn theo dõi đường đi nước bước của Mỹ trong âm mưu lật đổ chế độ hiện hữu. Đại sứ Cabot Lodge vẫn một nụ cười vồn vã hứa chắc với ông Diệm, nếu có sự chẳng hay xảy ra như dư luận đồn đại, người Mỹ sẽ đảm bảo cho cá nhân Tổng thống.
Cũng vào khoảng thời gian đó, Đại tá Lu Conein đã đến gặp tướng Đôn và túc trực bên phe đảo chính trong suốt ngày 1 và ngày 2 tại Bộ Tổng Tham mưu. Ông ta là trung gian giữa toà Đại sứ Mỹ và phe đảo chánh. Hay đúng hơn, ông ta thủ vai trò của kẻ điều động và thực hiện kế hoạch đã được thảo luận và quyết định chung giữa toà Đại sứ Mỹ và phe đảo chính([vi])?
Khi ở dinh Gia Long trở về, Đại sứ Lodge đã nhận được đầy đủ tin tức từ Bộ Tổng Tham mưu báo cáo cho biết kế hoạch tiến hành.
Rồi một ngày trôi qua như mọi người đều biết, cuộc đảo chính hoàn toàn thành công với sự xuất hiện của các tướng lãnh mang danh xưng là những con người cách mạng và ở trong tổ chức mới, lúc đầu mệnh danh “Hội đồng các tướng lãnh” sau đổi thành “Hội đồng Quân nhân Cách mạng”.
Nhằm vào đúng ngày lễ các đấng linh hồn, một trong những ngày lễ quan trọng nhất của tín đồ Thiên chúa giáo, hai anh em Tổng thống Diệm cùng bị thảm sát sau khi đã dâng trọn những lời cầu nguyện cuối cùng tại nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn, với sự chứng kiến của Linh mục Jean – Một Linh mục thuộc Hội Thừa sai Pa-ri (MEP).
Chi tiết về cái chết của Tổng thống Diệm đến nay tuy không còn là điều bí mật song đã có quá nhiều những chi tiết mâu thuẫn nhau. Trong những giờ phút cuối cùng, Ngô Đình Diệm đã tỏ ra hoàn toàn mệt mỏi và không còn tin tưởng bao nhiêu khi phe đảo chính báo cho anh em ông biết là đã bắt Đại tá Tung và ông này cùng lực lượng của ông đã đầu hàng phe “Cách mạng”([vii]).
Tổng thống Diệm bây giờ chỉ còn đặt tin tưởng vào Quân đoàn 3 của tướng Huỳnh văn Cao và nhất là Quân đoàn 2 của tướng Khánh mà ông Nhu hoàn toàn tin cậy. Song tướng Cao đã không làm được gì khác hơn. Sư đoàn 7 nằm trong tay Đại tá Nguyễn Hữu Có phụ tá Tư lệnh Quân đoàn.
Anh em ông Diệm chỉ còn lại lực lượng phòng vệ trong dinh. Tất nhiên lực lượng này không còn phương thế hoạt động nào khác hơn là đành thúc thủ trong bốn bức tường thành Cộng hoà và dinh Gia Long. Trước một tình thế bi đát như vậy, ôngNhu quyết định ra đi – Tổng thống Diệm mặc nhiên chiều theo quyết định của em ” Đi mô… đi thì đi… ” Đó là lời nói gió cuốn mây trôi của Tổng thống Diệm.
8 giờ 30 Tổng thống Diệm, ông Nhu, Đại uý Đỗ Thọ và Đại uý Bằng rời khỏi dinh Gia Long trên bước đường của định mệnh. Khi tiếp thu dinh Gia Long, Trung tá Phạm Ngọc Thảo không tìm thấy anh em ông Diệm nên đã cấp báo cho tướng Trần Thiện Khiêm rõ. TướngTrần Thiện Khiêm ra lệnh cho Trung tá Thảo phải tìm kiếm…
Theo tiết lộ của những người trong cuộc, tướng Khiêm dặn Phạm Ngọc Thảo phải tìm mọi cách đón anh em ông Diệm, phải bảo vệ an ninh cho anh em ông ta, có được như vậy thì tướng Khiêm và phe của Trung tá Khải mới có thể thực hiện được kế hoạch lật ngược thế cờ.
Khi được tin dinh Gia Long đã thất thủ thì lúc ấy chính là lúc trong Hội đồng Quân nhân cách mạng và nhóm tướng tá đảo chính cũng đã chia thành năm bảy phe qua những xu hướng chính trị và quyền lợi trái ngược nhau. Riêng Trung tá Phạm Ngọc Thảo từ trước ngày đảo chính đã có những liên lạc mật thiết với Đại tá Đỗ Mậu và tướng Khiêm. Ông Thảo là người được tướng Khiêm tin cậy và cả hai đều là những tướng tá được chế độ tin dùng. Riêng tướng Khiêm sau vụ đảo chính hụt, ông trở thành vị tướng lãnh thân cận của Tổng thống Diệm và được coi như người con “tin cẩn” trong gia đình Tổng thống.
Trong đường lối và trong thâm tâm của phe Phạm Ngọc Thảo chỉ muốn thay đổi cơ cấu của chế độ mà thôi…Song tình thế đã biến chuyển khác hẳn và trái với ước mong của Phạm Ngọc Thảo từ buổi đầu. Ông Thảo hẳn đã biết rõ những xu hướng khác nhau trong Hội đồng Quân nhân cách mạng trong đó đã có một xu hướng chủ trương phải giết anh em ông Diệm để trừ hậu hoạ và đó cũng là chủ trương của một số nhân vật Mỹ mà ông Fisthel là đại diện. ông này vẫn chủ trương: Chế độ Ngô Đình Diệm phải được cải tổ toàn bộ nếu Tổng thống Diệm không chịu thì Tổng thống phải ra đi hoặc bị thủ tiêu.
Xu hướng thanh toán Tổng thống Diệm quy tụ tử mấy tướng lãnh đã sẵn lòng bất mãn với Diệm từ lâu…Đó là các tướng Trần Tử Oai, Mai Hữu Xuân.
Mặc dầu những người như Trung tướng Trần Văn Đôn từng được chế độ của Tổng thống Diệm đặc biệt ưu đãi, tin cẩn trong suốt 9 năm cũng muốn thay đổi Chính phủ Diệm. Tướng Đôn liên tiếp được giao phó những chức vụ quan trọng, từ Tư lệnh vùng I đến Tư lệnh lục quân, rồi quyền Tổng Tham mưu trưởng. Ba tướng Đôn, Kim, Oai được coi là thành phần nòng cốt của Hội đồng Quân nhân cách mạng. Người Mỹ tin cẩn vào tướng Đôn hơn cả. Sở dĩ tướng Dương Văn Minh được Mỹ giao phó vai trò chính vì đối với quân đội lúc ấy và trong hàng tướng lãnh thì uy tín của tướng Minh nổi bật hơn cả. Có thể nói năm tướng Minh, Đôn, Kim, Oai, Xuân đứng riêng một phe.
Chưa có chứng cớ nào rõ rệt để nói rằng tướng Khiêm, Đại tá Mậu, Trung tá Thảo đứng về một phe khác không mấy thân thiết và tín cẩn đối với phe kia. Nhưng dù sao tướng Khiêm vẫn là người tỏ ra ôn hoà với chế độ Ngô Đình Diệm mà chính ông ta đã trưởng thành trong chế độ ấy. Còn Trung tá Phạm NgọcThảo – một tín đồ Thiên chúa giáo có đầu óc tiến bộ và quốc gia cực đoan, kể từ biến cố Phật giáo, ông quyết liệt chủ trương phải thay đổi thành phần và cơ cấu của chế độ. Trung tá Thảo là người thứ nhất đã can đảm trình bày với tướng Khiêm đang nắm quyền Tham mưu trưởng Liên quân, cái trục hên lạc thân thiết của Trung tá Thảo: Thảo, Mậu, Tuyến. Thảo là bạn tâm tình của bác sĩ Trần Kim Tuyến và chính Thảo cũng đã thẳng thắn tỏ bầy ước vọng và kế hoạch của ông cho bác sĩ Tuyến rõ.
Kể từ đầu tháng 5-1963 theo sự lượng tính và tiên liệu của bác sĩ Tuyến nếu không kịp thời có một chương trình hành động để cứu nguy chế độ thì khó lòng ngăn ngừa được cuộc đảo chánh. Trung tá Thảo cũng lo âu như thế. Từ khi ông Tuyến ra đi thì Thảo không còn gì ràng buộc mật thiết với chế độ. Song Thảo vẫn tiếp tục móc nối với một số tướng tá vẫn được coi là người của chính quyền, nhằm thực hiện một cuộc đảo chính cốt sửa sai, hơn là san bằng đồng thời có thể ra tay trước phe tướng Minh và vô hiệu hoá mọi âm mưu trong kế hoạch của họ và lật ngược thế cờ để nắm phần chủ dộng. Thảo đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đảo chính 1-2-1963 và Thảo được đặt dưới quyền sử dụng trực tiếp của Khiêm. Dù chủ trương như thế nào, Thảo cũng đã là một trong những người thân tín của chế độ Diệm.
Ông Thảo đã được Hội đồng Quân nhân cách mạng giao phó phần phát thanh. Đây mới là thứ vũ khí sắc bén nhất để xô đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Ví như không có phần phát thanh từ lúc đầu thì cục diện chưa chắc đã thay đổi mau lẹ.
Khi phe Minh, Đôn, Kim nhận được tin Ngô Đình Diệm đang ử chợ Lớn đã cấp tốc ra lệnh cho Đại tá Dương Ngọc Lắm đem thiết quân vận M 113 vào đón bắt. Đại tá Lắm lúc ấy đang nắm quyền Tổng giám đốc Địa phương quân (một trong số tướng tá được chế độ đặc biệt ưu đãi, tin dùng).ông Lắm là người theo đảo chính vào phút chót. Tất nhiên là ông đã không được sự tin cậy của phe chủ chốt. Do đó, Mai Hữu Xuân được Minh chỉ định đi theo giám sát Lắm.
Tóm lại, đã có hai toán quân vào Chợ Lớn tìm bắt anh em Tổng thống Diệm. Mỗi toán có thể nói thuộc về một phe, nhằm mục đích riêng. Nếu Trung tá Thảo biết rõ anh em ông Diệm đang ở nhà thờ Cha Tam thì cái chết đã không đến với hai anh em ông Diệm, ít nhất là đã cứu thoát đượcông Diệm. Song Thảo lại chỉ đến lục soát nhà Mã Tuyên trong lúc anh em Tổng thống Diệm đang dâng lễ ở nhà thờ Cha Tam. ông Thảo trở về tay không đồng thời cũng mang theo sự thất bại của nhóm ông.
Và có phải chính ông Diệm báo tin cho Khiêm để nhận sự đầu hàng và cho biết đang ở nhà thờ Cha Tam không?
Một nghi vấn cho rằng: Có lẽ viên sĩ quan tuỳ viên của ông vào phút chót đã phản phúc và báo cho phe đảo chính biết nơi hai anh em đang trú ẩn.
Sự thực không phải Đại uý Đỗ Thọ đã phản phúc. Đại uý Đỗ Thọ được Tổng thống bảo đi gọi điện thoại về Bộ Tổng Tham mưu cho Khiêm nhưng Thọ lại gọi điện thoại trực tiếp cho Đỗ Mậu là chú ruột của mình.
Vậy thì hai anh em ông Diệm có đầu hàng phe đảo chính không?
Những diễn biến tại dinh Gia Long và tại nhà Mã Tuyên từ 12 giờ 30 ngày1-2-1963 đến 4 giờ đêm ngày 2-2 sẽ giúp cho sử gia sau này đi đến một kết luận rõ rệt hơn.
Khi Đại tá Lắm đem quân đến nhà thờ Cha Tam thì lúc đó Hội đồng Quân nhân cách mạng vẫn chưa có quyết định dứt khoát về số phận chung của anh em ông Diệm. Một người trong cuộc cho biết: “Anh nào cũng run hết trước một quyết định dứt khoát quan hệ đến sự thành bại của cuộc đảo chánh. Hội đồng chia thành 3, 4 phe: Một phe nhất định phải thanh toán ngay anh em ông Diệm.
Tuy nhiên phe này chỉ rỉ tai bàn kín với nhau thôi. Phe khác chủ trương để anh em ông Diệm lưu vong ra ngoại quốc. Phe thứ ba giữ thái độ dè dặt…
Phe quyết định thanh toán Diệm lấy cớ rằng, nếu anh em ông Diệm còn sống thì cuộcđảo chính sẽ bất thành, vì tay chân của ông không sớm thì muộn cũng sẽ phản công. Vả lại, phe này thấy rằng ngay trong Hội đồng Quân nhân cách mạng cũng đã quá phần nửa từng là người thân tín của Diệm và Nhu.
Điều lo ngại hơn nữa là họ vẫn chưa nắm được tướng Tôn Thất Đính mà binh quyền đang nằm gọn trong tay Đính cũng như một số tướng tá khác như Nguyễn Khánh Quân đoàn II, Huỳnh Văn Cao Quân đoàn IV, Cao VănViên Tư lệnh nhảy dù và Huỳnh Hữu Hiền Tư lệnh Không quân (Hai sĩ quan Viên và Hiền đã thẳng thắn từ chối tham gia phe đảo chính).
Giả sử nếu đưa anh em ông Diệm về trình diện Hội đồng Quân nhân cách mạng thì biết đâu sự hiện diện của anh em ông lại không thể làm nản lòng và gây xúc động lương tâm của những người thân tín của ông. Nếu chỉ nhằm đến mục đích hoàn thành cuộc đảo chính và tránh mọi hậu hoạ thì phe này khi ra tay hạ sát Tổng thống Diệm cũng không có gì khó hiểu.
——————————————————————————–
[i] Theo bản báo cáo mật của Cảnh sát đặc biệt thuộc thẩm quyền của ông Dương Văn Hiếu – Phó Tổng Giám đốc cảnh sát quốc gia.
[ii] Thời đó chính quyền Sài Gòn gọi những chiến.sĩ cách mạng là Việt Cộng viết tắt là VC
[iii] Chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập ở miền Nam Việt Nam
[iv] Tuần báo Express số 909
v] Theo một tài liệu khác thì tướng Đôn đã nhận 3 triệu đồng VNCH để chia cho các đơn vị tham gia đảo chính và các tướng lãnh khác
[vi] Theo sự tiết lộ của Lu Conein thì ông được mời đến với tư cách Cố vấn Mỹ tại Bộ Nội vụ tham dự phiên họp thường lệ của Bộ Tổng Tham mưu và sau khi đảo chính xảy ra thì tướng Đôn giữ khéo Lu Conein ở lại Bộ Tổng Tham mưu như một thứ con tin và một bảo đảm an ninh cho các tướng lãnh
[vii] Chỉ phe cánh đảo chính

Quốc Đại

About these ads

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s