Những kẻ giết thơ

Voici le temps des Assassins.
(A. Rimbaud)

Literature is news that stays news.
(Ezra Pound)

Trên Hồn Quê tháng 5/2001 có một bài điểm thơ Tân hình thức rất tỉ mỉ, khá vui. Vui, vì nó không soi sáng Tân hình thức mà chỉ phản ảnh cái nhìn vuông vức của người đọc. Ðộc giả có thể học được lắm điều hay khi đọc bài này. Ở đời mình không nên xem thường ai cả. Chẳng hạn, các nam độc giả không nên thường xuyên vào web lục lạo tìm coi Sexy Asian Girls, etc…
Vừa ghé vào gia trang, người đọc đã bị ngỡ ngàng với câu chào đón: Có một địa chỉ nhỏ của Tạp Chí Thơ trên Internet, do Khế Iêm chủ trương… Tại sao nhỏ?

Bài điểm thơ khá chi tiết. Tác giả ghi lại hết tất cả các yếu tố của Tân hình thức Việt theo thứ tự từ A đến Z. Rồi ông ta tìm một bài tân hình thức không thích hợp với một yếu tố hay định nghĩa (tính truyện, tính nhạc, vần điệu…) để chứng minh sự thành công… thê thảm của nhóm này (“vẽ voi thành chuột”). Xưa nay, các tác phẩm dẫu hàng đầu, cũng chưa chắc đã thể hiện được đúng mức ước mơ của tác giả. Nhìn dưới một góc cạnh nào đó mọi tác phẩm đều là một thất bại hay thành công thê thảm. Mà như vậy lại càng hay. Bởi kẻ sáng tạo vẫn chỉ là một con người, và cũng thường là một con khỉ hay bắt chước một hoặc nhiều con khỉ khác, trước khi có được một đóng góp giá trị. Mặt khác, một tuyệt tác phẩm trăm phần trăm sẽ là một cái xác chết. Tuyệt tự.

Nếu nói theo nhà thơ Yves Bonnefoy thì kẻ sáng tạo khi đã lên tới đỉnh rồi thì phải đạp phá và bắt đầu lại từ đầu. Nhà thơ Khế Iêm cũng có một suy gẫm tương tự: “Nhưng có điều nghịch lý là tiến trình sáng tạo cũng là tiến trình của phủ nhận”. Nếu muốn bắt bẻ chỉ để bắt bẻ thì Truyện Kiều còn nhiều câu chưa hợp vần. Ta có thể viết lại, như người viết bài này đã từng làm trong lớp học để mua vui:

Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh
Rằng năm Gia Tỉnh triều Manh
Bốn phương phẳng lặng hai kanh vững vàng
Có nhà viên ngoại họ Vang
Gia tư nghĩ cũng thàng thàng bậc trung
Một trai con thứ rốt lùng
Vương Quan là chữ nối dùng nho gia
Ðầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Vân xem trang trọng khác vười
Khuôn trăng đầy đặn nét người nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhàng màu da…

Người điểm thơ Tân hình thức là một kẻ ngủ quên trong các quán văn quán thơ của quá khứ, nên lúc lọt vô cánh đồng hậu hiện đại mênh mông đã có đủ thứ ngộ nhận, trông gà hóa cuốc. Tất cả đã được người điểm thơ phân loại, dán nhãn, đánh giá theo chức năng: thơ để ngâm nga, báo chí không thể là văn chương, báo chí chỉ để lấy tin tức… Người điểm thơ không nghĩ rằng người ta còn có thể dùng một bài báo để chùi đít hay làm một cánh diều. Hoặc biến một sấp báo Le Monde cũ thành một tác phẩm nghệ thuật. Joseph Beuys hay Marcel Duchamp đã chơi dại như vậy, trong lúc ta chơi khôn lấy báo gói thịt cá rau hay gói đậu phọng rang.

Ðại khái, người điểm thơ đã coi Tân hình thức Việt như là sự cóp nhặt đơn thuần New Formalism của Mỹ, nhưng lại “bảo hoàng hơn vua” (trong cách gieo vần). Dưới cái nhìn của người điểm thơ, tân hình thức chỉ là những bài văn xuôi được đếm chữ so câu và sử dụng kỹ thuật vắt dòng, cần phải trau chuốt thêm. Bởi chúng không có thi pháp, nhịp điệu, đọc thấy khó hiểu vì thiếu sự trong sáng, mặc dù có khi người điểm thơ chê một bài thơ vì nó “chỉ là một bài báo” cải trang (‘Kiều’, ‘Những người chết trẻ’). Khó hiểu, thiếu trong sáng, một bài báo? Nói vắn tắt, đối với người điểm thơ, tân hình thức chỉ là những bài văn xuôi hạng bét, trá hình đội lốt thơ. Xin thưa: Tân hình thức muốn đem ngôn ngữ đời thường vào thơ nên không buồn trau chuốt. Tôi e trau chuốt hiểu theo cách của người điểm thơ, đã mang một nghĩa xấu, gần như tương đương với kiểu cọ?

Người điểm thơ chia văn xuôi ra làm hai loại: văn xuôi không chải chuốt (tầm thường, không đáng kể) và văn xuôi chải chuốt (hay ho, nên trân trọng). Báo chí được xếp vào loại tầm thường. Theo thiển nghĩ, văn xuôi dù có vẻ không chải chuốt (Alain Robbe-Grillet…) cũng là một cách để trau chuốt, mà Hemingway là một trường hợp điển hình. Trong lúc mọi người đều hè hụi bắt chước viết theo Hemingway, Faulkner đã chê chọc, nói Hemingway là nhà văn tay phải cầm bút, tay trái cầm tẩy. Ðiều này cho ta thấy câu văn ngắn gọn của Hemingway, hay câu văn bất tận của Faulkner cũng đều là văn xuôi trau chuốt cả. Với thời gian, câu văn giản dị, trực tiếp, dễ đọc, dễ hiểu của tác giả Ông già và biển đã trở thành quá mài giũa, gò bó, không được “tự nhiên”.

Về vần điệu tân hình thức, người điểm thơ cho biết ngay rằng không có vần điệu. Một bài thơ Khế Iêm có những từ lập đi lập lại, được nhấn mạnh gạch dưới để bảo rằng “nếu xem các chữ ấy tạo thành vần của bài thơ, thì vần kiểu này chỉ mang lại tính cách lượm thượm rườm rà mà thôi. Còn những bài thơ khác không có những từ lập lại thì sao. Ðộc giả thử tìm vần trong các bài thơ đó xem sao”. Ðộc giả này thử tìm vần trong các bài thơ đó xem sao. Ðộc giả này cũng thử tìm điệu trong các bài thơ đó xem sao. Ðộc giả này gửi meo đặt mua chịu hai số báo, Xuân và Thu 2000. Khi báo tới, độc giả này mở tờ Playgirl số mùa Xuân ra coi. Ðộc giả này thấy có hình ta ôi những miếu đền. Không có vần vèo. Ðộc giả này lại mở tiếp cuốn Playboy số mùa Thu ra ngắm, thấy dày dày sẵn đúc một tòa không thiên nhiên. Toàn là ngực bôm mông thổi như ô my beautiful ô my beautifull balloon. Không nhịp điệu. Ðộc giả này xin các độc giả khác thử tìm vần điệu trong các bài thơ đó xem sao. Ðộc giả này hỏi ông giáo trưởng Tân hình thức thì được nhã nhặn mời đọc kỷ lại các bài tân hình thức một lần nữa. Ông ta thấy không cần phải chứng minh.

Người điểm thơ đưa ra một nhận xét: “Xưa nay người ta yêu thơ không những vì ý thơ hay, mà còn vì lời hoa mỹ, chữ dùng mới lạ, bút pháp tân kỳ. Người ta không chỉ ngâm nga cả bài thơ mà còn trích dẫn từ ngữ, nhớ mãi trong tâm. Thơ Tân hình thức dùng lời lẽ đời thường, không thi pháp, thì còn cái gì để thưởng thức? Chỉ còn cái hàm ý của cả bài thơ mà thôi. Nếu người đọc không tìm ra cái hàm ý này thì bài thơ chỉ để lại một con số không trong tâm trí.”
Ôi, để lại được một con số không thì hay quá rồi. Có nhiều bài thơ như nước đổ lá môn, chẳng để lại gì cả. Chắc đây là chuyện suy bụng ta ra bụng xưa nay? Ðộc giả nào? Ai đâu dám chắc rằng “nắng cực” trong thơ bác Hồ là lời hoa mỹ để tránh dùng từ “nứng cặc” không bóng bẩy. Nhỡ bác Hồ bác ấy thấy thế nào thì cứ bảo vậy thì sao? Thơ Genet vì ở miền buốt giá nên không có nắng cực hoa mỹ chỉ có nứng cặc dài dài, dài và to hơn điếu xì gà trên môi người đẹp Monica. Rimbaud – trước khi trốn nhà lên Paris tìm gặp Verlaine trong một cơn cực nắng bất ngờ ở Charleville – thì ưa loại “văn chương đã hết thời, truyện kích dâm đầy lỗi chính tả, sách của trẻ con, bài ca vớ vẫn, nhịp điệu ngây ngô…” (1) Rõ ràng ông hoàng chú bé của thơ ca Pháp cuối thế kỷ 19 lúc vỡ lòng đã học lấy những nghề nghiệp hay. Sau một đêm say men, say thuốc, say nhạc (các bài ca Tiệp) trong một tửu điếm, sáng dậy ở Paname (2), nhà thơ Apollinaire đã trông gà hóa phượng, đọc các tờ truyền đơn, thư mục, bích chương (3) như đọc thơ… có lời hoa mỹ, chữ dùng mới lạ, bút pháp tân kỳ, nhớ mãi trong tâm. Các yếu tố của thơ tân hình thức đã được liệt kê từ Z tới A mà sao lại bảo rằng Tân hình thức không có thi pháp nhỉ?

Người điểm thơ trích dẫn một bài thơ tình Nguyên Sa nhớ mãi trong tâm. Người gõ bài này e chỉ có những cô những cậu học trò vừa mới biết yêu, vừa mới biết đọc thơ tình ở Sài Gòn trong hai thập niên 50/60 thì mới thích trèo lên đỉnh “em mặc áo xanh hay mặc áo thêu hồng”. Người gõ bài này e mấy chiếc áo vàng, áo xanh, áo tím, áo thêu hồng lòe loẹt, không còn hợp với nàng thơ tân hình thức, vì nàng chỉ thích làm như minh tinh BB thời thanh xuân, cởi truồng ngồi ngắm nghía cuộc đời qua lại lại qua trên bãi biển Vũng Tàu. Thơ Nguyên Sa được người điểm thơ khen tặng có “lối nói bình thường, nhưng thật ra (tôi nhấn mạnh) đã rất chải chuốt, chọn lọc”. Ðã có mâu thuẫn rõ rệt: một câu nói rất chải chuốt, chọn lọc, không thể là lối nói bình thường được. Tội nghiệp cho nhà thơ Nguyên Sa đã được đệ tử tâng bốc kiểu đó. Vì anh với tôi là đồng nghiệp ở trường Chu Văn An và văn hữu trên tờ Trình Bầy. Chính tôi đã photocopy các trang ký Vài ngày làm việc ở Chung sự Vụ đăng tải trên TB mà tôi còn lưu giữ được một bộ, để nhà thơ in lại thành sách bên Mỹ. Tôi nói tội nghiệp, vì người điểm thơ đã vẽ rắn thêm chân, diễn giải (bịa đặt chứ không có thật ra) lượm thượm ngôn ngữ thơ Nguyên Sa theo ý đồ của mình. Hãy thử giải thích dùm người điểm thơ bằng cái nhãn quan của chính ông ta. Rất có thể vì Nguyên Sa là một giáo sư triết và một nhà thơ nên lối nói bình thường (không chải chuốt, không chọn lọc) của Nguyên Sa vẫn hoa mỹ hơn lối nói bình thường của thiên hạ (không chải chuốt, không chọn lọc – như tân hình thức), và cũng đẹp hay hơn lối nói chải chuốt chọn lọc của một anh chàng (giả dụ) dốt hay nói chữ. Nhưng thơ (bánh ngọt) của tiệm Nguyên Sa có thể không hợp khẩu vị của những người khác. Khen cái “chải chuốt” của Truyện Kiều và chê cái “quê mùa” của Lục Vân Tiên không phải là phê bình văn học, mà là đánh giá hai tác phẩm theo chủ quan và khẩu vị của một cá nhân. Người điểm thơ yêu cái lối nói bình thường và ngôn ngữ xinh xắn của một nhà giáo kiêm nhà thơ (Nguyên Sa), trong khi nhà thơ tân hình thức thì lại chuộng cái lối nói bình thường và ngôn ngữ tục tằn (của một em gái bụi đời) và sao chép lại y hệt, chẳng hạn.

Có thể người điểm thơ có đủ khả năng để đọc một bài báo lấy tin, nhưng chưa đủ óc thẩm mỹ (?) để nhận thấy rằng một cái tin, đôi khi tự chính nó cũng đã có thể là một bài thơ rồi, nhưng không phải vì lời lẽ chải chuốt như thơ. Do quan niệm rất sai lầm đã kể về văn xuôi, người điểm thơ đã phê phán bài ‘Những người chết trẻ’ như sau: “Nhưng bình thường (sic) đến mức buông thả (nếu đã buông thả thì không thể bình thường được, mà bình thường thì đâu có dở có phải không ạ?) như văn xuôi – văn xuôi cũng có khi còn chải chuốt hơn -, có khi chỉ là một bài báo (như bài ‘Những người chết trẻ’ của Lê Thánh Thư và ‘Kiều’ của Ðỗ Kh.) thì thật là quá đáng.” Chắc người điểm thơ muốn nói rắc rối khó hiểu như thế này: “Nhưng tầm thường đến mức như văn xuôi không chải chuốt, vì có khi chỉ là một bài báo (như bài ‘Những người chết trẻ’ của Lê Thánh Thư và ‘Kiều’ của Ðỗ Kh.) thì thật là quá đáng”. Ô kìa, văn xuôi của các ông ký giả đều là văn xuôi hạng bét hết cả hay sao? Tản Ðà, Hoàng Ðạo ngày xưa đã chẳng viết báo là gì à? Và Hemingway. Và Camus. Và Sartre. Và Duras nữa… Ôi không thể kể xiết các nhà văn đông tây kim cổ đã/đang/sẽ còn viết báo để kiếm tiền, vì nó thường là cái nghề tay trái của người cầm bút. Văn báo cũng có cái đặc sắc của nó nữa chứ. Trọn chương 7 của quyển Ulysses gồm toàn những đoạn văn ngắn có tựa đề riêng nhại các bản tin đăng báo, đọc thấy thú vị như đọc những bài thơ-văn xuôi. Vì đã có các nhân vật thật của “faits divers” (“tin vặt”) như trộm, cướp, đĩ, điếm, nên cuốn truyện đầu tiên (4) của Genet đã được nhà Arbalète layout mỗi trang chia làm hai cột như trang báo.

Buông thả như văn xuôi là thế nào? Văn xuôi của ai? Theo thiển ý, viết bất cứ một cái gì (dù chỉ xịt thật nhanh hai chữ “Fuck you” lên tường), là đã có sự chọn lọc chữ nghĩa, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp ngay từ lúc đầu, nên không thể có sự buông thả được? Xin trích dẫn một nhận xét không bình thường đến mức buông thả: “Thơ thuật sự truyền thống thường diễn tả cảnh vật, sự việc qua tâm hồn nhân vật, và tâm hồn nhân vật có thể chính là tâm hồn tác giả. Chính điều này tạo nên những lời thơ bóng bẩy, ý thơ hay và câu thơ được coi là có hồn”. Và đây là một nhận xét (bình thường đến mức không buông thả?) về Tân hình thức: “Tự sự khách quan… Lời thơ mang tính khách quan, vô hồn, không giải thích, không bút pháp đặc biệt, chẳng khác gì lối văn của Alain Robbe-Grillet. Chính cái không giải thích này có thể làm cho bài thơ khó hiểu, trái với kỳ vọng về sự trong sáng.” Xin thưa, nếu văn Tân hình thức mà giống được như văn của A. R. Grillet thì sướng quá trời rồi, ai đâu cần làm thơ làm tình chi cho thêm mệt cái ngón trỏ.

Một số các tác giả hiện đại tránh né sự giải thích, là bởi không muốn làm bậc thầy, là vì muốn người đọc đừng tiếp tục cái vai trò thụ động. Xưa như trái đất rồi. Giọng tường thuật (tự sự) châm biếm, nhất là hai chữ “dái tai” đã cho thấy ngay bài báo/bài thơ ‘Những người chết trẻ’ đã có cái nhìn chủ quan rõ như ban ngày. Ðó là một cái nhìn chủ quan trá hình chỉ có thể gạt được bọn “children” mà thôi (xin lỗi các đấng “mai bê bi” nhé). Người điểm thơ hình như muốn khuyên nhà thơ tân hình thức, kẻ đang tìm một đường hướng mới, nên tiếp tục làm thơ theo truyền thống (truyền thống nào?) để cho thơ còn được trong sáng, có hồn, dễ hiểu (cho những ai?) Cái sờ sờ trước mắt là bút pháp của Alain Robbe-Grillet. Chính vì muốn có một bút pháp đặc thù nên Alain Robbe-Grillet đã chọn lối viết “rất tầm thường” của Alain Robbe-Grillet.

Chuyện này khiến tôi nhớ lại một bài phê bình phim đăng trên tờ Thế Kỷ 21 khi Mùi Ðu Ðủ Xanh của Trần Anh Hùng ra mắt khán giả trên đất Mỹ. Tác giả là một cô hay một bà, coi xong rồi nghe kích thích tối đa, được hãnh diện thơm lây (cuốn phim đã đoạt giải thưởng), tình yêu nước, tình yêu nghệ thuật, máu chị hùng nổi lên đùng đùng muốn vỡ đê sông Hằng nên chở người bạn gái đi ăn mỗi cô/bà hai tô bún bò Huế king size để tưởng nhớ quê cha đất mẹ dấu yêu nghìn trùng xa cách. Rồi cô ta hay bà ấy về nhà lấy giấy bút ra mần liền một bài “điểm phim” khen vẻ đẹp tự nhiên của Trần Nữ Yên Khê và lớn tiếng mắng yêu các cô ca sĩ Việt Nam, mặt mày bôi son trát phấn xanh đỏ chèm nhèm thấy mà ghê, sao không noi gương cô Mùi để mặt thiệt tự nhiên đi hò đi hét. Cũng may cô kia hay bà nọ không khuyên các nàng ca sĩ ta hãy giải nghệ hoàn lương, theo học một lớp dạy làm đu đủ, khô bò cấp tốc, rồi tìm xin một chân ở đợ, chờ lấy con bà chủ cho đời lên… mùi đu đủ xanh. Khuôn mặt tự nhiên trên màn bạc là một khuôn mặt đã được trang điểm cho nó trông có vẻ “tự nhiên”. Như cái vẻ đẹp “tự nhiên” do cắt tỉa hoa lá, uốn nắn cây cành trong nghệ thuật chơi hoa kiểng của Nhật Bản. Cựu Tổng thống Nixon vì muốn có vẻ đẹp “thùy mị tự nhiên” trên TV, nên phải mang cái mặt phấn son tô điểm san hà, bát phố Catinat cho cameramen thu ảnh gửi về Mỹ lượm lá phiếu phụ nữ. Các nhà phê bình sâu sắc xưa nay đã lẫn lộn luân lý với nghệ thuật, đã dùng luân lý để phê bình nghệ thuật. Nhà trí thức phê bình phim đã ca tụng một cô “đào thương” trên màn bạc cũng như một khán giả bình dân đã mắng chửi một anh “kép độc” đang diễn tuồng trên sân khấu.

Nếu bảo rằng Tân hình thức không có nhịp điệu vì chúng đều là văn xuôi thì lại càng đúng một… phần trăm. Bởi lẽ giọng kèn của ông này không giống tiếng quyển của bà kia. Mỗi cây bút cũng là một cung đàn. Do vậy, mỗi bài tân hình thức đều có nhịp điệu riêng nên không thể giống nhau được. Nếu đọc một bài văn xuôi – xin gọi tạm là văn xuôi như lời người điểm thơ – sắp xếp dưới dạng tân hình thức, và cũng bài văn xuôi ấy giàn trải theo cách thông thường, mà không thấy/chưa thấy được sự khác biệt nhau, thì không do lỗi của người làm thơ, mà bởi lỗi của người điểm thơ, hoặc chưa biết đọc thơ, hoặc đã cố ý không muốn thấy có sự khác biệt nhau. Bài thơ ‘Ðó là giọt mực’ của Phan Tấn Hải đã được hân hạnh mang ra làm dê tế thần. Tân hình thức không thiếu nhịp điệu/vần điệu. Nhưng là nhịp điệu khác, là vần điệu khác, nên có thể chưa quen tai. Về cái hàm ý của bài thơ (nếu có hàm ý) độc giả không tìm thấy thì cũng chả sao. Nếu cần, vẫn có thể nhắc đến bài tiểu luận ‘Against Interpretation/Chống diễn dịch’ của Susan Sontag. Ðọc truyện của Kafka, hay xem kịch của Beckett, ai muốn hiểu thế nào thời cũng tốt. Tất nhiên người đời nay xem tranh hứng dừa không có con mắt của người đời xưa. Nhưng, hứng dừa là hứng dừa là hứng dừa là hứng dừa. Diễn giải thành tranh hứng dái thì cũng… okay. Nhưng đó không hẳn là ý muốn của người vẽ tranh, lại càng không phải là ống kính “khuôn vàng thước ngọc” để chúng ta xem tranh dân gian.

Ðem đời thường vào văn chương văn nghệ không phải là cứ việc sao chép lại y hệt. Mà nếu có xerox y hệt thì cũng đã có sự lựa chọn trước của mỗi tác giả. Như trường hợp chụp bắt những đồ vật sẵn có (ready made) trong nghệ thuật. Người sáng tạo đã lựa chọn một món giữa muôn ngàn đồ vật. Khi còn sống con đoài mồi chỉ là thú vật. Phơi khô nó trở thành một nghệ phẩm. Khi chọn cái bồn tiểu Duchamp đã đi xa hơn một nghệ nhân, ông đã nhìn thấy cái đẹp trong một đồ vật không chỉ tầm thường mà còn bẩn thỉu là đằng khác, mà trước đó người ta chỉ nhận thấy cái phần lợi ích của nó mà thôi. Tóm lược và diễn giải cho dễ hình dung, chứ vấn đề không thật đơn giản như vậy đâu. Fountain (Cái bồn tiểu, 1917) là tác phẩm ý niệm (conceptual art) đầu tiên với mục đích phủ nhận các bậc thang giá trị quý đẹp (repudiation of values) của một tác phẩm nghệ thuật cổ điển. Trên trang báo, bài báo là bài báo. Trong tay nhà thơ tân hình thức bài báo đã trở thành đề tài và chất liệu để làm một bài thơ. Ðộc giả bài ‘Kiều’ là một người đọc thơ nên không cần biết bài báo có thật hay không (chính tôi cũng không biết, phải e-mail hỏi tác giả). Người đọc thơ cũng tựa như người xem tranh không cần biết người mẫu có thật hay không. Nếu không có bàn tay của nghệ nhân và bàn tay của nhà thơ tân hình thức, con đồi mồi và bài báo sẽ mai một, như nàng Mona Lisa của Leonardo Da Vinci, hay chiếc ghế, chiếc giầy trong tranh Van Gogh. Nhưng người chụp bắt phải có con mắt tinh đời. Nếu thấy người ta làm rồi, mình cứ bắt chước làm theo, chụp ếch cái kiểu đó có thể té nặng mà chẳng bắt được gì cả. Người điểm thơ đã lầm tưởng rằng chỉ cần đếm chữ so câu một bài văn xuôi cho đồng đều nhau như câu thơ, rồi phân đoạn thêm nếu muốn, là sẽ có ngay một bài tân hình thức đọc liền – như mì ăn liền.

Nhưng Tân hình thức tất nhiên là không phải vậy. Chí ít là trên phương diện thị giác (visual) nó đã khác một bài văn xuôi, đã khác một trang tiểu thuyết rồi. Ngoài phần nội dung giống văn xuôi (nếu có sự tương đồng), nó đã có thêm được cái hình thức của một bài thơ. Kế đến nó có thêm cái nhịp điệu cung cấp bởi số chữ của mỗi dòng đã được tác giả lựa chọn (thất ngôn với ‘Những người chết trẻ’, lục bát với ‘Kiều’). Sự vắt dòng (yếu tố trụ cột của Tân hình thức) đã làm nẩy sinh những âm tiết, hình ảnh, nghĩa ngữ bất ngờ (nhất là trong THT Việt với ngôn ngữ độc âm) do sự tình cờ ngẫu nhiên rất thú vị. Ðộc giả có khi phải đọc đi đọc lại các câu vắt dòng mà mỗi bận có thể là một khám phá mới, chứ không thể đọc một mạch như đọc câu văn xuôi từ chữ đầu đến chữ cuối, nhất là trong các bài có ít dấu (Phạm Việt Cường, Nguyễn Thị Thanh Bình) hay đã bỏ hết các dấu của câu (Jean Ristat/Ðỗ Kh., Nguyễn Ðăng Thường, Ðinh Cường). Chỉ cần nhìn vào cái ví dụ mà người điểm thơ đã trưng ra là thấy ngay. Khi bị đổi ngược lại để trở thành một bài văn xuôi, bài thơ ‘Ðó là giọt mực’ của nhà thơ Phấn Tấn Hải bị mất cái tiết nhịp khi nó còn là một tân hình thức. Bảo rằng hai bản đọc chẳng thấy khác nhau là “ngụy biện” (mauvaise foi).

Một lần nữa, xin nhắc lại ý kiến của người điểm thơ: Tân hình thức không chỉ là văn xuôi trá hình mà còn là văn xuôi dở vì không chải chuốt. Tất nhiên, Tân hình thức tuy vậy mà không phải vậy. Như tranh Warhol vừa là, vừa không là những tấm ảnh. Giả thử, nếu như ta lấy bất cứ một bài văn xuôi nào rồi sắp xếp lại cho thành một bài tân hình thức mà thành công, thì lại càng hay. Ðó không phải là cái nhục cho Tân hình thức (thơ dễ/thơ dở) mà là cái vinh. Nếu đã vậy thì những trang tiểu thuyết của Nhất Linh, chẳng hạn, nhờ có Tân hình thức (hay cái máy đẻ thơ Tân hình thức) sẽ trở thành những trang thơ hay. Vì Ðoạn Tuyệt là một cuốn tiểu thuyết hay. Ðộc giả sẽ có một cuốn Truyện Ðoạn Tuyệt và một cuốn Thơ Ðoạn Tuyệt đều hay cả. Văn chương ta sẽ thêm giàu có. Nhưng trên thực tế văn xuôi của Nhất Linh sẽ không trở thành thơ tân hình thức được. Tất nhiên đây chỉ là lập luận trên nguyên tắc, vẫn còn trường hợp ngoại lệ, một nhà thơ tân hình thức tài hoa vẫn có thể biến một trang tiểu thuyết của Nhaát Linh thành một bài tân hình thức được như thường.

Người điểm thơ đã lầm tưởng rằng một bài văn xuôi trau chuốt (do từ định kiến ưa thích cái chải chuốt, cái bóng bẩy học lóm của người xưa hay đã được một ông thầy Việt văn nhồi sọ) sẽ đẻ ra một bài tân hình thức giá trị hơn, là bậy. Vì sự chải chuốt đã tạo một tiết nhịp quá rõ rệt trong câu văn xuôi (cỗ văn như các bài vịnh Kiều, văn tế, và tân văn của Tản Ðà?, Nguyễn Tuân). Mặt khác, với loại văn xuôi miền Nam không trau chuốt, có vẻ như gần gũi với ngôn ngữ đời thường (Hồ Biểu Chánh), thì cũng chưa chắc cứ đếm chữ so câu là sẽ có được ngay một bài tân hình thức. Nói tóm lại, văn xuôi của tân hình thức là văn xuôi của tân hình thức. Nó vừa rất đặc biệt lại vừa “rất tầm thường” như văn chương… Alain Robbe-Grillet (xin lỗi ARG). Tranh của Monet, của Van Gogh, của Rousseau đã từng bị chống đối vì chúng không giống tranh cổ điển. Cũng như vẫn còn một số người Việt Nam chưa biết thưởng thức thơ văn-xuôi (văn xuôi “tầm thường” như thơ của Beaudelaire, Francis Ponge, Henri Pichette, Henri Michaux), nhưng lại ưa chuộng loại văn xuôi trau chuốt đọc lên “nghe như thơ”. Văn xuôi của Thế Lữ không giống thơ, nhưng văn xuôi của vài cuốn tiểu thuyết (của Thanh Tâm Tuyền? Mai Thảo?) vì có nhiều “tính thơ” nên chúng thuộc loại tiểu thuyết “khổ độc”? Nhiều bài thơ văn-xuôi của ta, nếu không muốn bảo rằng hầu hết, đều rất dở không đọc được, là do bởi sự nhầm lẫn đó. Hình như cũng có ngộ nhận đáng buồn về siêu thực trong thơ và tranh.

Người điểm thơ trích dẫn nhà thơ Chân Phương trích dẫn nhà phong cách học Phan Ngọc, tác giả của Tìm hiểu Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều: “Hình thức càng nôm na bình thường bao nhiêu, nội dung càng phải siêu việt bấy nhiêu, nếu không chỉ có thất bại.” OK. Nhưng tiếc thay, cả ba ông tác giả khoái cái siêu việt này lại không buồn dẫn chứng cho thiên hạ nhờ. Người gõ bài này vẫn còn u mê về cái hình thức “nôm na” và cái nội dung “siêu việt”, không biết nó ám chỉ tác phẩm nào, đã có mặt hay chỉ là giả thuyết. Nếu đem nó áp dụng cho Truyện Kiều, thì chắc Truyện Kiều có hình thức nôm na vì sử dụng thơ lục bát, và có nội dung siêu việt vì đã kể lại một câu chuyện siêu tàu? Tách rời hình thức khỏi nội dung là một quan niệm sai lầm. Hình thức mà nôm na (dở) thì nội dung dù có siêu việt (hay) thế mấy, bài văn, bài thơ cũng không thể hay được. Truyện Kiều của Nguyễn Du hay hơn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân là do bởi hình thức. Phim của Trần Anh Hùng, của Tony Bùi coi được vì hình thức đẹp. Ngược lại, nhiều cuốn truyện hay đã không trở thành phim hay vì hình ảnh, đạo diễn, tài tử kém. Hình thức “đẹp” cộng với nội dung “hay” sẽ cho ta một tuyệt tác.

Tiếc thay tôi không có một người bà yêu hay một người mẹ hiền ru ngủ trên võng bằng những câu Kiều. Hồi nhỏ tôi chơi đùa một mình và thi thoảng buồn buồn ngồi gõ ngón đàn piano tưởng tượng, hát nghêu ngao “Frère Jacques” (Kìa con bướm vàng) hay “Il était un petit navire” (Ai đi trên đường thiên lý sương sa mơ), nên bây giờ lỡ có bị đứt tay vẫn thấy máu trắng chảy chứ không phải “những câu lục bát buồn rưng rưng” cuồn cuộn vọt ra ngoài. Nhân tiện, cũng xin kể ra vài điều mà người gõ bài này thấy khó hiểu hay có nghịch lý trong tác phẩm của Nguyễn Du:

a) “Cỏ non xanh tận chân trời” và “Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Tại sao cỏ đã héo úa trên một nắm mộ hoang vắng, một nơi rất lý tưởng cho chũ nghĩa cỏ xanh bành trướng?

b) “Xập xè én liệng lầu không” và “Nhà tranh vách đất tả tơi”. Cái ông viên ngoại này ngốc ơi là ngốc, ở tù là phải. Nhà lầu sẵn có sao lại bỏ trống, sao không bán lấy tiền xài chơi, mà dọn ra nhà tranh vách đất chi dzậy?

c) Ðạm Tiên là một thứ “geisha”, “poule de luxe”, hay “high class call-girl” của thời xưa. Nghĩa là nàng thuộc loạt điếm sang. Trong nhà nàng hẳn phải có kẻ hầu người hạ chứ? Tiền của, nếu không chất đầy kho thì cũng phải đủ dư để cho ai đó làm một cái đám tang nho nhỏ. Nếu không có người chôn cất thì nhà nước đã phải ra tay. Một cái xác không mồ trong thời bình là chuyện khó tin. Khi không khơi khơi lăn đùng ra chết (để minh chứng cho thuyết hồng nhan) cái xác cứ để mặc đấy, dấu xe ngựa đã lờ mờ, nghĩa là chắc không thể dưới một, hai tháng. Thế mà sao nó vẫn chưa sình thối, chưa có ròi bọ chuột dán nghe nức tiếng nàng tìm… xơi. Chắc tại vì cái cô ca sĩ này là một cành thiên hương, khiến lũ dán chuột bọ ròi dị ứng chăng?

d) Các từ “xưa là”, “một thì” chỉ gợi một ý niệm rất mơ hồ về thời gian. Khi Vương Quan kể chuyện, Ðạm Tiên chết đã bao lâu rồi? Mà quái lạ, sao hai ả tố nga chẳng hay chẳng biết gì cả về một người đẹp nổi danh tài sắc ở chung tỉnh? Hình như chỉ có Vương Quan và “người khách ở viễn phương” là biết tiếng Ðạm Tiên. Nếu cô Kiều lúc đó vừa đúng 15 (tới tuần cập kê), thì Vương Quan phải 13, nếu ba chị em đều sinh năm một. Một nho sinh còn non choẹt như thế mà sao lại quá rành rỏi về giới ăn chơi nhỉ?

Cách giải thích số 1 (theo văn chương) của người gõ bài này, là khi viết Truyện Kiều, ông già Nguyễn đã chịu ảnh hưởng của chũ nghĩa thần kì hiệnthực. Cách giải thích số 2 (theo cảm tính) là ông cụ Du đã cải lương hơn đoàn Thanh Minh, đã sử dụng “mưu thần chước quỷ”, để:
a) làm lóa mắt thiên hạ với những cảnh đẹp

b) móc nước mắt với những cảnh sầu.

Vừa mới tả cảnh đẹp xong (ngọn tiểu khê, nao nao dòng nước, nhịp cầu nho nhỏ) Nguyễn Du đã day qua tả cảnh buồn (sè sè nắm đất, dàu dàu ngọn cỏ). Thính giả, độc giả Truyện Kiều đã bị xỏ mũi dắt đi tùy hứng. Mả Ðạm Tiên nằm trong một cảnh trí nên thơ như vậy thì còn gì bằng, cớ chi mà phải sụt sùi. Ðoạn kể chuyện Ðạm Tiên đầm đìa nước mắt (khóc than khôn xiết, đầm đầm châu sa, châu sa vắn dài). Trong bối cảnh đoù, Thúy Vân vì còn đầy đủ lý trí nên có vẽ trơ trẽn, vô duyên. Dưới con mắt của Thúy Kiều/Nguyễn Du (hay ngược lại) ngôi mộ Ðạm Tiên hiện ra như sau: “Sè sè nắm đất bên đàng/Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Theo lờiVương Quan kể thì nó lại như thế này: “Bụi hồng một nấm mặc dầu cỏ hoa”. Lời chú dẫn trong Truyện Kiều (theo bản của nxb Ðại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1983) thì: “Tản Ðà chú: “Hai chữ bụi hồng đây chỉ là lơøi văn lịch sự, nói cái mả chôn bên đường. Có nhiều bản đề là: “vùi nông” thời làm mất cả vẻ hay mà lại thành ra cái tình của người khách không có trung hậu…” Mặc dầu cỏ hoa: để mặc cho hoa dại, cỏ hoang dầu dãi mọc đầy (tôi nhấn mạnh); ý nói không ai thăm viếng, sửa sang”. Vậy thời cái mả này nó nhiều hay ít cỏ đây? Cách suy diễn của Tản Ðà thoạt trông có vẻ hợp tình hợp lý, rất dễ thương, rất hấp dẫn, nên đã được tán thành vì sự trân trọng nhà thơ (cụ) Tản Ðà, và vì diễn giải như vậy có vẻ “rất thông minh”. May thay, Tản Ðà cũng cho biết “có nhiều bản (tôi nhấn mạnh) đề là “vùi nông”, nhưng tiếc thay Tản Ðà lại không cho biết rõ bản nào đã đề là “bụi hồng” (một “bản” do Tản Ðà bịa đặt?) Dựa vào bản tính cải lương và ưa cường điệu của tác giả Truyện Kiều tôi chọn “vùi nông”. Mặt khác, lập luận của Tản Ðà chứa đựng mâu thuẫn. Cụ Tản Ðà đã tặng hoa cho người đồng điệu, đã vẽ chân không rắn: nếu người khách có tình trung hậu như Tản Ðà nói, cớ chi lại chôn Ðạm Tiên bên đường?

Bản “vọng cổ” Lầu xanh mới rũ trướng đào/càng treo giá ngọc càng cao phẩm người… vì quá du dương nên đã khỏa lấp được những điều nghịch lý rất khôi hài. Nhưng nó vẫn còn nghe được vì nó là một “ca khúc” mùi mẫn đã quen tai. Nó bắt đầu với cái cảnh ăn chơi tưng bừng đã được phóng đại tối đa (cường điệu): “Biết bao bướm lả ong lơi/Cuộc vui đầy tháng trận cười suốt đêm/Dập dìu lá gió cành chim/Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Biết bao, dập dìu, sớm tối… để rồi nàng Kiều (hay ông Nguyễn?) lại giở cái giọng cải lương tự ti ra: “thân sao bướm chán ong chường bấy thân”. Vì nàng Kiều (hay ông Nguyễn?) mãi lo ca hát theo nhịp tango sáu tám nên đã quên câu “càng treo giá ngọc càng cao phẩm người” ở trên. Xin thưa, không thể có chuyện bướm chán ong chường được đâu. Không thể. No way. Vì Ðạm Tiên “xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi” và Thúy Kiều “qua chơi nghe tiếng nàng Kiều” đều rất sáng giá, rất nổi danh. Cái thân bướm chán ong chường đó nó vẫn còn đẹp chán, nó sẽ còn là “hoa đào”, “hải đường mơn mởn cành tơ”, “trong ngọc trắng ngà” cho gã Thúc Sinh phạm tội ngoại tình, rồi cho chàng Từ Hải bị bay cái đầu anh hùng. Ðau đớn thay phận đàn ông!

Trong Truyện Kiều, hoặc là thật xấu hoặc là tuyệt đẹp. Nhà tranh vách đất vẫn chưa đủ, còn phải tả tơi, rèm nát, phên thưa. Ðẹp thì phải thuộc hàng hoa hậu áo dài Nam Cali: “Người quốc sắc kẻ thiên tài”. Thúy Kiều là một trang quốc sắc thì cũng tạm được cho. Nhưng Kim Trọng là một đấng thiên tài? Xin lỗi. Chả dám ạ. Nhưng đó là cái lối viết ưa dùng biểu tượng, ẩn dụ, hoán dụ của một thời đại. Tất nhiên, dù là “thiên tài” Nguyễn Du cũng đã bị trói buộc trong không gian và thời gian, đã phải sử dụng, hay đã cắt lắp các sáo ngữ, hình ảnh sẵn có, do vậy mà trong cùng một câu thơ cũng có sự mâu thuẫn (?) như trong câu “đầy vườn cỏ mọc lau thưa”. Cỏ thì có thể xum xuê xanh tận chân trời, nhưng lau sậy thì phải luôn luôn gầy yếu, ngả nghiêng, lác đác thì mới nên tranh nên thơ. Do theo cái quan niệm phân hai theo lối cũ của người Tàu (âm/dương, nam/nữ, nhật/nguyệt) nên ở Nguyễn Du cũng có sự chia đôi rõ rệt (đẹp/xấu, tài/mệnh, tình/hiếu), thì trách chi cái đám chút chít vẫn còn mang cái vết tích ấy tựa một khúc ruột thừa như người bình thơ Tân hình thức đã vung kiếm rạch đôi sơn hà thơ/văn?

Các nhà bình luận mác-xít đã kéo tấm chăn về phía họ. Truyện Kiều tất nhiên đã phản ảnh chế độ phong kiến, cũng như nó đang phản ảnh chế độ cộng sản, hay bất cứ một chế độ nào còn nhiều bất công xã hội. Nhưng rủi thay Truyện Kiều cũng đã cung cấp cho ta những thành ngữ để tự ti và tự bào chữa như “phận nhỏ cánh chuồn”, “con ong cái kiến”, “chút phận đàn bà”. Bà Trưng, Bà Triệu, Tú Bà, Hoạn Thư đâu có chút phận, mặc dù Hoạn Thư đã dùng “chút phận” đẻ tự bào chữa. Xưa nay cái nhan sắc của người phụ nữ thường là một đặc ân hơn là trừng phạt. Ðắc Kỷ, Ðiêu Thuyền, Võ Hậu, Tây Thi, Messaline, Giang Thanh, Imelda Marcos, Eva Perón là những người đàn bà đẹp có nhiều quyền bính trong tay, họ không chút phận tí nào cả. Trong cơn nguy biến Thúy Kiều vẫn còn có người theo phò hộ kia mà. Thật ra, Nguyễn Du đâu có đau đớn cho cái số kiếp của một con đĩ mà chỉ xót xa cho cái số phận của một trang tiểu thư đài các trâm anh. Thúy Kiều, như bậc đàn chị Ðạm Tiên, cũng là một con “superwhore”, xưa nay chỉ có hai không ba thì làm sao mà điển với chả hình. Nếu sống bây giờ, Nguyễn Du sẽ viết về một cô nữ sinh sắc nước hương trời, sa chân sẩy bước thay vì kể lại câu chuyện của một con đĩ hè vô tài vô sắc.

Tới đây xin cho mở thêm một dấu ngoặc. Như các dân tộc khác có Dante, Pushkin, Shakespeare, Cervantes, Goethe, Tagore – Nguyễn Du là nhà thơ lớn nhất của chúng ta. Nhưng trong cái may cũng có không ít cái rủi. Chẳng hạn, con cháu Shakespeare thấy không cần phải đọc văn chương của các ngôn ngữ kém cỏi hơn tiếng Anh nên ít chuyển dịch, ít tìm đọc các tác giả ngoại quốc hơn người Pháp (đã dịch Cao Hành Kiện trước tiên). Người Mỹ thì không ham coi phim ngoại quốc vì dị ứng phụ đề, v.v… Người Anh đã có nhiều may hơn rủi với Shakespeare. Cervantes thì hình như là một cái may tới trăm phần trăm, theo lời nhà văn Peru Mario Vargas Llosa. Còn chúng ta thì sao? Bên may bên rủi bên nào nặng hơn? Theo thiển ý, đây là câu hỏi ta cần phải đặt lúc tửu hậu trà dư: Ðất nước (“hồn thiêng sông núi”) đã hun đúc Nguyễn Du, hay triết lý Truyện Kiều và xúc cảm của một tác giả đã như lớp sương mù phủ che, đè nặng lên tâm hồn của cả một dân tộc?

Nguyễn Du là nhà trí thức được may mắn ra xứ ngoài nhưng rủi thay (?) ông đã lựa chọn và du nhập một cuốn truyện hạng ba với một cái tà thuyết không biết do ai sáng chế. Chính cái tài hoa của Nguyễn Du đã khiến cái tà thuyết càng thêm nguy hiểm? Bởi nhìn kỷ thì cái thuyết “hồng nhan” nếu không là con đẻ thì cũng là con nuôi của chế độ phong kiến và đạo đức Khổng Mạnh, hay bất cứ một chế độ độc tài nào, biến trật tự xã hội mà mọi thành phần càng đồng dạng nhau càng tốt, và các mối “hiểm họa” thường đến từ những con cừu đỏ (Thúy Kiều) và những con cừu đen (Từ Hải). Buồn thay, Từ Hải “trai anh hùng” và Thúy Kiều “gái thuyền quyên”, hai cái mầm phản loạn/mầm cách mạng có thể chọc trời khuấy nước (như Nguyễn Thái Học và Nguyễn Thị Giang, như Bonnie và Clyde) cuối cùng đã trở thành Dumb (Thúy Kiều) và Dumber (Từ Hải).

Có phải Truyện Kiều cũng chỉ là một câu chuyện tải đạo răn đời (cautionary tale), ngụ ý khuyên bảo mọi người nên an phận thủ thường, mà Kim Trọng, Vương Quan, Thúy Vân là những nhân vật điển hình? Tội nghiệp cho Thúy Vân, một chiếc bóng vô hình đến mức không ai buồn để tâm xem giữa nàng và Kim Trọng có chút tình lưu luyến nào không. Cũng như Liêu Trai Chí Dị, Truyện Kiều là sản phẩm của một xã hội thuộc nam quyền và nho giáo, vừa say đắm vừa hãi sợ cái nhan sắc và cái tình dục của người đàn bà (quyến rủ, ma quái, nghiêng nước nghiêng thành). Sắc đẹp, món vũ khí độc nhất và lợi hại nhất của người phụ nữ, bị đàn áp dưới thời phong kiến và bị bọn trí thứ biến thành một cái “nghiệp chướng” để phục vụ chế độ. Thúy Vân đẹp cũng không thua chị, nhưng vì nàng không vượt ra ngoài vòng lễ giáo, chịu cúi đầu vâng vâng dạ dạ nên OK. Vì sự lợi ích của bọn đàn ông cầm quyền bính, cái phần hy sinh quên mình “mẫu tính” (madonna) được tôn vinh, đặt trước cái phần hạnh phúc cá nhân “đĩ tính” (whore) ở người phụ nữ xưa. Võ Hậu là một con đàn bà nguy hiểm, dâm đãng. Nhưng Trụ Vương có mười ngàn cung phi mỹ nữ thì OK. Người ta chỉ “bốc thơm” người đàn bà những khi cần đến họ: giặc đến nhà đàn bà phải đánh. Giặc tan, bọn đàn bà trở vô bếp lo việc bếp núc hầu hạ các ngài đại tá, đại tướng còn tại chức hay đã nghỉ hưu. Tình dục trong cuốn truyện của Bồ Tùng Linh là tình dục bệnh hoạn, hậu quả của sự dồn nén, của thủ dâm (hiểu theo nghĩa xấu). Bọn đàn bà con gái là những con chồn tinh hiện hình, hút cạn sinh lực của anh học trò trong đêm khuya vắng, cho tới khi xanh xao, đầy tà khí.

Trở về ảnh hưởng của Truyện Kiều? Không biết đổ thừa cho Nguyễn Du như vầy có công bằng hay không, nhưng mẹ tôi suốt đời đã “vẹn chữ tòng” với chồng với con, đã sống trong sự lo sợ nom nớp những lời dị nghị. Bà khuyên dạy chúng tôi “đừng làm khác người ta con ơi”, “thiên hạ sao thì mình vậy”. Nghĩa là nếu muốn sống cho yên thân thì ta đừng chọn con đường của Thúy Kiều, đẹp thì phải lấy lọ nồi bôi lên mặt, đừng chọn con đường của Từ Hải (một thứ Gengis Khan hạng mười?) mà phải lo vùi mài kinh sử, đổ đạt cho cả nhà được hiển vinh. Nhân vật Thúy Kiều đã được sáng chế với những nghịch lý rõ rệt. Không biết cái nghiệp chướng của Thúy Kiều là gì mà khi đào thai, thay vì làm trâu ngựa, nàng lại được/bị thành một đóa hồng nhan với mệnh bạc? Cái xã hội phong kiến trong Truyện Kiều bị cơn gió nhẹ lung lai, làm rơi rụng vài chiếc lá úa rồi đâu lại vào đấy. Nó bắt đầu với “bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng” để rồi chấm dứt với cảnh đoàn viên, “phong lưu phú quý ai bì/vườn xuân một cửa để bia muôn đời.” Trong việc đọc sách, nhà văn Khái Hưng cũng vậy. Giữa biết bao áng (bài) thơ hay của nước Pháp, nhà văn này lại lựa chọn một cái sonnet thuộc hàng tiểu xảo để chuyển ngữ (“Lòng ta chôn một khối tình”). Tất nhiên đây là bài thơ (bản dịch) vẫn còn được nhiều độc giả ta tưng tiu quý trọng, vì nhìn lướt qua trang web, tôi thấy có ít nhất là ba gia trang Việt đặc biệt dành cho bài thơ của Félix Arvers, một nhà thơ tài tử tí teo của thế kỷ 19. Thông thường, đại đa số không biết lựa chọn cái hay cái đẹp, mà chỉ lựa chọn cái mình ưa, cái hợp gu mình. Nhưng lấy cái mình thích ra làm cho người thì lại là chuyện khác. Trên phương diện văn chương nghệ thuật, Anh phải sống (cái truyện ngắn của Khái Hưng được âu yếm chuyển dịch ra vài ngoại ngữ) rất… “cải lương”.

Trở lại ảnh hưởng Truyện Kiều. Ngoài bói Kiều, ngâm Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều, vẽ Kiều, diễn Kiều, lượm Kiều, lấy Kiều, hóng mát trên bến Ninh Kiều tùm lum tà la, có phải hình ảnh động đào và thiên thai đã đẻ ra thêm một bài “Thiên Thai” (Tống Biệt) của Tản Ðà, và một bản Thiên Thai của Văn Cao với bầy tiên nữ Lolita chờ dâng trái đào tơ? Và một khúc “Thiên Thai” (Tống Biệt) Tản Ðà/Phạm Duy? Và một cái quán ăn Bồng Lai trên một cái sân thượng ở Sài Gòn cũ thi thoảng vọng đưa tiếng ca lảnh lót của một danh ca trình diễn cả hai bài “Thiên Thai”? Có phải “ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa” sẽ có một lô con cháu chắt chút chít bắt đầu với ‘Lỡ bước sang ngang’? Rồi ‘Hai sắc hoa Ti-gôn’ và ‘Bài thơ thứ nhất’? (Tôi rất thích cái thái độ nhiêu đó đủ rồi của tác giả hai bài tình có nhiều chất humour ngầm này: “Trời ơi người ấy [cái thằng chó chết đó nó] có buồn không?”) Tất nhiên đây chỉ là diễn giải cho vui, vì hình như có một ông râu mày hạng miếu đền đã chê bai hai bài thơ của đàn bà con gái là lải nhải. Ai đâu dám chắc T.T. KH là đờn bà. Ngoài ra, nhịp tiết của thơ bảy, tám chữ đều là sao chép thơ T.T.Kh. Tiếp theo, vâng, tiếp theo là một chuỗi liên tu bất tận thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, độc giả sĩ, thính giả sĩ thất tình kinh niên? Một người ngồi bên nay sông. Một người ngồi bên kia sông. Bên nay sông là một ông lẻ loi tình nhớ. Bên kia sông là một bà lẻ bóng tình xa. Chới với ở giữa sông Ngân Hà không cầu khỉ, thì có kẻ này đêm đêm vừa gõ nhịp bàn chữ vừa nghe rên rỉ vừa khóc thút thít. Chiều xưa mưa rơi âm thầm kẻ này đã giành ô chạy về nhà cho le,ï chớ sức mấy mà đưa em sang sông. Ðó là tình ca. Còn dân ca? Kẻ này cũng đã từng “kìa đoàn người vui vẻ gái cùng trai” bi bô “ai bảo chăn trâu là sướng chăn trâu khổ lắm chứ” bằng thích, cho đến ngày giải phóng được gửi đi vùng kinh tế mới, mới được biết rõ cái mùi “ông bảo chăn trâu là khổ chăn trâu sướng lắm chứ”. Tất nhiên một “cái nhìn của chim” hay một “cái nhìn của ếch” sẽ không được trăm phần chân xác, nhưng hy vọng cũng có vài phần đúng chăng? Ừ, thì mình cứ trình làng quốc tế đại, thử coi.

Hiển nhiên người gõ bài này không muốn vạch lá tìm sâu. Ðây chỉ là những điều thắc mắc cỏn con tôi đã chôn kín trong lòng từ thuở xa xưa hoïc trò như khối tình Trương Chi, chẳng muốn tỏ bày cùng ai, vì “nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn” “con ong cái kiến kêu gì được oan”, nếu không có cái chuyện phê bình tân hình thức dư thừa cái nọ cái kia của thơ ca cổ điển nên dở ẹt. Dẫu sao thì Truyện Kiều vẫn là một áng thơ hay, một tác phẩm hàng đầu. Khác với Chinh Phụ và Cung Oán, Truyện Kiều thuộc thể loại truyện nôm, một thứ “pulp fiction” của ngày xa xưa. Nó có những màn hấp dẫn (văn chương, nghệ thuật) và những cái phi lý (thượng mại, câu khách) của những món hàng để tiêu thụ, hoặc để mua vui, của các cuốn phim Việt Nam trong và ngoài nước (lính ngụy để tóc dài, gái nghèo mặc xú chiêng đắc tiền, v.v…)

Một độc giả còn nhiều thói quen về thơ ca có thể khó cảm nhận được cái chất liệu gồ ghề cố tình (xin gọi tạm như vậy) của Tân hình thức. Có thể ví họ với những người (giả dụ) vì quen đọc/quen nghe truyện thơ nên không thể chấp nhận các cuốn truyện văn khi chúng mới xuất đầu lộ diện. Bảo rằng Tân hình thức vì không có các chất liệu quen thuộc của thơ cũ nên không thể là thơ, cũng tựa như nói tranh trừu tượng, hoặc hai bức tranh White on white và Black on black, hai khung bố vuông vức toàn một màu trắng đục và một màu đen tuyền, của Malevich, không phải là hội họa. Nhóm Xuân Thu Nhã Tập cũng đã từng bị chỉ trích thậm tệ.

Biết bao tác phẩm giá trị hàng đầu của ngày hôm nay đã từng bị chống đối trong quá khứ. Tất nhiên, nhóm tân hình thức không dám so bì với bất cứ một ai. Tuy nhiên, vì có người đã không ngại đường trơn ướt đến thăm Tân hình thức neân nhóm này cảm thấy phấn khởi vô cùng. Xin cảm ơn và xin cứ tiếp tục, khen chê đều quý hơn kính nhi viễn chi. Nhóm tân hình thức làm thơ để mọi người cùng đọc chơi, chứ không phải để giành ngôi vị thiên tử. Vì là tranh luận nên khó giữ được bình tĩnh, có khi buộc lòng phải sử dụng những lời lẽ kém thanh tao, hay chơi trò “du kích chiến” này nọ để độc giả đỡ thấy chán, chứ tuyệt nhiên không có chuyện “tư thù” chẳng đội trời chung. Ngậm chữ phun người chỉ mỏi miệng mình, đánh võ mồm thắng thua đều thiệt cả. Trong cuốn phim Cô gái trên sông của đạo diễn Ðặng Nhật Minh, người nữ phóng viên cộng sản có đưa ra lời nhận xét sau đây: “Ðời sống cần một cái gì khác hơn là những lời lẽ suông dù phê phán hay ngợi ca”.

Trở về tương lai Tân hình thức, cũng xin nói thêm rằng chủ đích của nhà thơ Khế Iêm khi viết các bài lý thuyết không phải để lên mặt kẻ cả, đàn anh. Mà chỉ cốt để cho người làm thơ có tựa điểm. Trong phần kết luận, tác giả bài nhận xét có tặng cho Tân hình thức một bông hồng muộn màng: “Tôi đồng ý rằng các bài thơ làm theo Tân hình thức có một nội dung mới lạ so với các bài thơ tự do”. Một bông hồng hay là cái phát súng ân huệ trá hình đây? Một bông hồng tất nhiên rồi!
Vâng. Tân hình thức là một bông hồng trong cái chợ trời thơ tươi mát bên dòng chảy rộn rịp của cuộc đời đáng yêu và đáng ghét, phản ảnh trong mỗi bài thơ. Hãy đọc Tân hình thức để thấy/để nghe tân hình thức tự trào (‘Ðọc tạp’, Hoàng Xuân Sơn). Ðể theo chân kẻ thao thức vào siêu thị khuya làm shop lifting chơi (‘Nửa đêm’, Nguyễn Thị Ngọc Nhung). Ðể há miệng cười che giọt lệ đá bóng (‘Apocalypse now-Pay later’ Nguyễn Ðăng Thường). Ðể spray những lời ngạo nghễ lên mặt tường dày của đạo đức giả (‘Kiều’, Ðỗ Kh.). Ðể trầm ngâm như một vị thiền sư không chùa chiền (‘Chiếc ghế’, Khế Iêm). Ðể lãng du tay trắng chân giầy bố quay gót trở về điêu tàn (‘Nói lại về mái nhà xưa’, Nguyễn Ðạt). Ðể ngậm viagra nghe một khúc blues buồn rưng rức với người tình cũ (‘Jazz trưa’, Phạm Việt Cường). Ðể mơ mơ màng màng dệt thơ trên chiếc máy vi tính như cô gái xuân thì của một thời vang bóng đã dệt lụa mơ mộng bên khung cửi (‘Ðêm và giấc mơ’, Ý Liên). Ðể bùi ngùi cùng nhà thơ đi tìm thời gian đã mất tại một nơi mà cuộc đời đã được sống chỉ bằng nước mắt, với cái “truyện thơ tân hình thức” đầu tiên (‘Giữa những dòng thơ lời chưa nói’, Phan Tấn Hải). Vài ví dụ, trong cái số lượng khá dồi dào những tác phẩm của gaàn ba chục nhà thơ tân hình thức.

Những chiếc ghế… những chiếc ghế… những chiếc ghế… lập đi lập lại trong bài thơ của nhà thơ Khế Iêm khiến tôi nhớ đến các từ America… America… America… trong bài thơ của Allen Ginsberg do tôi chuyển ngữ mấy chục năm về trước ở Sài Gòn. Bài ‘America’ đã đưa tên tuổi và cái khuôn mặt râu ria hippie trẻ của nhà thơ Allen Ginsberg lên trang bìa tạp chí Time trong khi đất nước Việt ái yêu sắp bị chia cắt.

Nhại lời Rimbaud trong ‘Matinée d’ivresse’ (5) ta có thể bảo rằng: “Ðây là thời của những Kẻ giết thơ”. Nhóm tân hình thức giết thơ để viết thơ. A. Nói đùa cho vui vậy mà. Vì nếu nhà thơ Hàn Mặc Tử không thể giết người trong mộng thì nhà thơ Tân Hình Thức làm sao mà giết được thơ trên thực tế? Thơ có thiên hình vạn trạng. Thơ không nhất nhiết phải là một bài thi ca nho nhỏ xinh xinh có lời hoa mỹ để ngâm nga. Chắc ta cũng nên phân biệt giữa thơ/poetry và một bài thơ/a poem hiểu theo nghĩa cũ. Mỗi thời đại, mỗi chủ nghĩa đều có cái nên tranh, nên thơ, nên truyện của riêng nó. Những người làm thơ tân hình thức đang cố chụp bắt những cái mà họ cho là nên thơ trong thời đại của họ. Họ có thể sai lầm. Nhưng đó lại là một chuyện khác.

Xin cảm tạ quý vị độc giả.

————
Chú thích:
“La littérature démodée, livres érotiques sans orthographe, petits livres de l’enfance, refrains niais, rhythmes naifs…”. trong thi phẩm ‘Une saison en enfer’.
Paname, tiếng lóng để gọi Paris.
“Tu lis les prospectus les catalogues les affiches… Voilà la poésie ce matin…” trong bài ‘Zone’.
Notre-Dame-des-Fleurs (nxb L’Arbalète & nxb Gallimard)
‘Một buổi sáng trong cơn say’, một bài thơ-văn xuôi trong thi tập Illuminations.

Nguồn: Talawas

About these ads

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s