Bến nước Kinh Cùng

songnuoc

Ấy là nơi sông Cái chia nhánh chảy vào. Con kinh chảy hoài, mải miết, vào đồng sâu. Con kinh chảy đến doi đất ngang nhà cô Hai Cà, tưởng cùng, nhưng không. Dòng nước hiền lành lại mở lối, tiếp tục băng đồng, len lách, quanh co mãi cho đến khi nối được cùng sông Cái. Vậy mà người ta cứ gọi là kinh Cùng. Cô Hai Cà vẫn nhớ lời ông Ba Thời giảng giải:

– Có lúc nó như vậy nên người ta gọi tên như vậy. Tạo hóa sắp bày khéo lắm! Cùng, sao cho được mà cùng!

Cô Hai Cà nghĩ rằng cha cô nói đúng; nếu không, con kinh chảy đến doi đất nhà cô đâu có tạo thành khúc quanh để tiếp tục chảy xuống cuối vàm ngang qua nhà anh Út Chót. Cô tin vào bàn tay tạo hóa như cha cô đã tin. Tạo hóa kỳ diệu đã cho cô và con kinh Cùng của cô mỗi năm có một mùa bằng lăng mọc hai bên bờ kinh nở hoa tím ngát. Lòng cô mãi thương cảm khi mỗi sáng nhìn những cánh bằng lăng đã nở chiều qua rơi rụng xuống dòng kinh bồng bềnh theo con nước lớn đổ vào cuối vàm; rồi vào buổi xế trưa, lại cũng chính những cánh hoa tàn phai ấy theo con nước ròng trôi ra sông Cái. Quê cô hiu quạnh và buồn, thêm cảnh tượng ấy càng thêm buồn man mác. Vì sao buồn? Xóm làng thưa thớt. Xa xa mới có một hai mái nhà cất cặp bờ kinh. Vài vườn cây trái quanh sân trước, hè sau. Còn lại là bao la đồng ruộng. Ở đây chưa có đường bộ; vả chăng, đường bộ chẳng thuận tiện bằng đường sông. Phương tiện đi lại duy nhất là ghe, xuồng di chuyển trên kinh, rạch. Mỗi nhà tự lập ra bến nước dành cho sinh hoạt gia đình và giao tiếp với thôn lân. Trong hoàn cảnh như vậy người ta sẽ thấy quạnh hiu hơn khi nhà ít người, vắng khách.

– Cái xứ này buồn tênh. Đàn địch, ca hát mà khuây lãng!

Ông Ba Thời giải thích về ngón đàn điệu nghệ của mình và ông nói đó là lý do khi cùng vợ về đây định cư, lập nghiệp đã mang theo cây đàn phím lõm cùng với các bài bản mà ông đã chơi mãi với mấy người bạn nghệ sĩ giang hồ. Cây đàn phím lõm với sáu câu vọng cổ mới chơi nghe vui; càng nghe, càng thấm đẫm nỗi buồn da diết. Cha con cô Hai Cà luôn cảm nhận được điều đó, nhất là từ khi mẹ cô qua đời vì bạo bệnh, bỏ lại cho cha con cô. Cậu Ba Thế cũng gọi là Út Thế đang tuổi dại khờ.

Thời gian dần qua: Bấy giờ Ba Thế đã mười sáu tuổi; cô Hai Cà đã tuổi hai mươi. Nỗi buồn mất người thân của cha con họ cũng dần nguôi ngoai theo năm tháng. Ông Ba Thời không đi bước nữa. Những lúc nông nhàn, rảnh việc hoặc giỗ đám của láng giềng, ông thường đem đàn đến đàn ca cùng bè bạn. Kẻ đàn người hát dễ kết tri âm. Ông Ba Thời kết với Út Chót, người thanh niên trạc tuổi con gái ông, có giọng ca mùi, rất mùi, như chuối hương chín rục, vừa chơi chung vừa chỉ dạy bảo ban nhau. Từ ấy, ông Ba Thời thành thầy trò với Út Chót.
Thầy đàn, trò hát; thật là đôi bạn vong niên rất xứng cặp, xứng đôi. Những lúc “trà dư, tửu hậu, cao hứng hoặc chợt buồn, ông Ba Thời thường sai Ba Thế bơi xuồng xuống cuối vàm đón Út Chót lên nhà ông chơi. Khi ấy không gian nhà ông thật ấm áp, vui vầy. Ở nhà trên, ông Ba Thời, Út Chót, Ba Thế và đôi khi có thêm vài người láng giềng gần đàn ca, xướng hát tình… tang. Dưới bếp, bên ánh lửa bập bùng, cô Hai Cà lục đục khi thì nấu cháo gà, khi thì luộc vịt để chốc nữa bưng lên cho cả hội đàn ca nhấm nháp cùng rượu đế. Niềm vui của cô Hai Cà là được làm việc ấy Cô cảm thấy nhà mình đỡ quạnh vắng hơn; bài ca vọng cổ qua giọng ca của anh út Chót thật là mùi nhưng lại vui hơn.

Đôi lúc cha cô bận việc, lâu không tổ chức đàn ca tại nhà; anh Út Chót không có dịp đến chơi; cô lại thấy buồn, một nỗi buồn không tên tuổi.

Cứ như vậy cô Hai Cà thấy đời đáng yêu và đáng sống. Đôi khi cô nghĩ vu vơ rồi tự thấy thẹn thùng.

Cứ như vậy, mỗi lần ra bến nước, nhìn những cánh bằng lăng trôi giạt, cô Hai thấy bâng khuâng buồn mong đợi bóng dáng một chiếc xuồng quen.

*

“Tính… tính… tang… tang… tình…”. Cô Hai Cà nghe tiếng đàn dạo của cha mình. Giọng Út Chót cất lên: “Ngọc Hà ơi! Mắt của nàng đã gây nên sóng gió, để khổ đau tràn ngập mấy tâm tư… Ngọc Hà ơi! Thôi từ đây, gió đưa vầng mây đến phương trời xa, gót chân quan hà nghìn thu vĩnh cách. Anh nói không thành câu, nuốt lệ thầm câu tiễn biệt người yêu… cất bước theo chồng!”.

Cô Hai Cà nghe Út Chót ngân dài bốn chữ “cất bước theo chồng” thật là mùi rệu. Không gian như lắng xuống. Khoảng lặng của bài hát ở khúc này như dài, rộng ra. Cô Hai Cà bùi ngùi nhìn ánh lửa trong bếp bập bùng. Ôi! Nếu cô là Ngọc Hà trong bài ca ấy, cô sẽ khóc, sẽ buồn. Cô chờ đợi tiếng anh Út Chót tiếp theo bằng câu vọng cổ quen thuộc mà anh đã tập với ông Ba Thời suốt mấy tối rồi. Bỗng cô Hai Cà nghe tiếng trầm đục của cha mình:

– Giỏi! Út Chót! Mày ca mùi không thua gì kép Bảy Cao hồi đó đâu.
– Thiệt hông, chú Bả
– Thiệt?

Im lặng. Cô Hai Cà nghe tiếng củi nổ tí tách trong lò. Giọng Út Chót bỗng hạ xuống thì thầm tâm sự :
– Chú Ba thấy con… coi có được không?
Cô Hai Cà nghe hồi hộp lạ thường. Mặt cô bỗng dưng đỏ rựng. Tiếng ông Ba Thời nạt nhẹ:
– Thằng này? Được với hổng được là sao?
Út Chót giọng ngượng ngập:
– Thì chú coi con có xấu trai lắm hông?
– Chi vậy?
Cô Hai Cà chợt thấy tức cười nhưng nụ cười của cô chỉ hiện lên trong ánh mắt. Người ta thương tánh nết với giọng ca mùi, chớ ai mà so đo chuyện đẹp hay xấu trai. Cô Hai vừa nghĩ vừa nhón tay giở nắp vung nồi nước luộc gà đang sôi ùng ục. Giọng Út Chót nghe khang khác:
– Thì chú liệu giùm con coi…
– Liệu coi… cái gì mới được – Tiếng ông Ba Thời gắt nhẹ.
– Coi… con như vầy mà có theo gánh hát được hông?
Tiếng ông Ba Thời sửng sốt:
– Mày… tính… làm kép hát hả?
– Dạ!
Cô Hai Cà nghe như có gì đổ vỡ. Cái nắp vung trong tay cô vuột xuống trên miệng nồi đánh “xoảng”. Tiếng khua ấy có thể ở nhà trên cha cô nghe thấy, nhưng Út Chót thì không. Người ấy vẫn vô tình! Cô Hai Cà ngồi phịch xuống vạt tre gần đấy, bần thần. Lâu lắm cô mới nghe tiếng ông Ba Thời chậm rãi:
– Đừng! Út Chót! Cái nghiệp cầm ca bạc lắm? Tao sợ…
Út Chót nôn nóng:
– Sợ gì, chú Bả
Lại im lặng. Cô Hai Cà nghe thời gian dằng dặc trôi qua:
– Tao sợ… đường đời nhiều nỗi. Rồi mày sẽ chẳng còn giữ được mình…
Cô Hai Cà nghe tiếng anh Út Chót bật cười lớn:
– Chú nói kỳ chưa? Con sẽ là thằng Út Chót của cái xứ kinh Cùng này cho tới bạc đầu.
Tiếng ông Ba Thời ậm ừ:
– Tại tao lo xa… quá xa… Tao già rồi! Người già nào cũng vậy! Mày đừng lấy đó mà mích lòng! Thôi! Mày lấy giọng đi ! Tao rao trước, nghen! Tập lại bài hồi nãy nghen!

‘Tình… tang… tính… tình… tình… tang”. Cô Hai Cà nghe tiếng đàn của cha mình sao mà rời rạc và buồn bã. Tại tiếng nhạc buồn hay là tiếng của lòng cô. Giọng Út Chót lại cất lên: “Ngọc Hà ơi?..”.

*

Ba mươi năm. Tất cả vẫn như in trong ký ức cô Hai Cà, buổi tối mà anh Út Chót mơ thành nghệ sĩ. Trong cuộc đời mỗi người, cũng có lúc tâm hồn người ta có những ước mơ bay bổng như vậy, nhưng qua giây phút ấy rồi thôi. Anh Út Chót khác hơn. Anh đã lao theo và sống trọn vẹn với những gì mà mình mơ ước. Đúng như vậy!
Sau đó ít lâu gánh hát của ông bầu Tèo về hát cung đình rồi ra đi cùng với anh Út Chót. Ba Thế bảo với cha và chị mình là Út Chót có rủ cậu cùng đi nhưng cậu đã từ chối; bởi vì cậu biết rằng việc ruộng rẫy ở nhà cha và chị cần có cậu hơn. Vả lại, cậu thấy ngán cái cảnh lang bạt kỳ hồ mà cậu vẫn nghe mấy đào kép trong gánh của ông bầu Tèo thở than, ca cẩm.

Ừ! Giang hồ, cũng phải có “máu mới đi được! Cô Hai Cà nghe em nói, thở ra. Cô mừng vì cậu Ba Thế đã không nghe lời Út Chót rủ rê. Nhưng cô buồn vì chuyện anh Út Chót ra đi mà không nói với cô nửa lời từ giã. Anh không biết đến cái tình cô dành cho anh. Anh không biết, vắng anh, cô sẽ nhớ, sẽ buồn.

Đằng đẵng bao năm, anh Út Chót ra đi mà không thấy trở về. Gánh hát của ông bầu Tèo mấy mùa cúng đình đều trở lại kinh Cùng mà bóng dáng anh Út Chót vẫn “bặt tăm nhạn cá”. Cô Hai Cà ngày ngày ngóng ra bến nước trước cửa nhà mình, mong đợi hình bóng anh Út Chót bước lên bờ với gương mặt tươi cười rạng rỡ như xưa. Anh sẽ bảo với cô: Thôi! Từ đây tôi đã giũ áo phong sương, dừng bước giang hồ”. Ấy vẫn chỉ là nỗi niềm thầm lặng của cô Hai Cà. Thực tế cuộc đời đã diễn ra khác hẳn, ông bầu Tèo kể với Ba Thế. Ba Thế giấu biệt, không dám kể lại với chị mình. Anh Út Chót sau khi ra đi đã đổi tên là Trường Giang. Anh tập ca hát, tập diễn tuồng trong gánh hát của ông bầu Tèo chưa được trọn năm. Vai diễn vừa “quen nước quen cái” anh đã bỏ gánh ông bầu Tèo, giông theo cô đào nổi danh Mộng Ngọc.

Họ sống với nhau như chồng, như vợ, dù tuổi đời của Út Chót có kém hơn cô đào Mộng Ngọc ít nhiều. Đào Mộng Ngọc mê Út Chót lắm. Cô cứ buộc bầu gánh phải cho Út Chót đóng cặp với cô. Trước tiên cô muốn nâng đỡ kép trẻ Trường Giang, sau nữa cô muốn thỏa tình cả trên sân khấu.
Thành danh nghệ sĩ Trường Giang là chuyện không quá khó khăn đối với chàng trai của xứ kinh Cùng. Anh là giọng ca ăn khách nhất trên các sân khấu của các đoàn hát lớn ở Sài Gòn và các tỉnh miền Tây. Bấy giờ cô đào Mộng Ngọc đã xuống sắc qua thời. Kép Trường Giang bỏ người bạn tình già của mình chạy theo cô đào trẻ đẹp duyên dáng Kim Ba. Anh và đào Kim Ba lại đóng cặp hát chung. Họ lại sống với nhau như chồng, như vợ. Ba Thế nghe ông bầu Tèo kể “rồi tụi nó lại bỏ nhau cho mà xem”, cậu thấy ngán ngẩm và thấy buồn. Cậu đã có vợ con rồi.

Vợ chồng cậu và các con cùng sống với chị và cha già trong một mái gia đình. Cậu bằng lòng với niềm hạnh phúc đời thường của mình. Cậu chỉ thương chi. Hai Cà đã sang tuổi “băm” rồi mà không chịu lấy chồng, vẫn cứ vò võ một mình. Cậu không ngờ mối tình thuở xuân xanh mà Út Chót gieo cho chi. Hai Cà tưởng nhẹ nhàng mà lại sâu nặng đến vậy. Thế mới biết, cái lưới tình thật không chừng đổi, mỏng manh với người này mà bền chặt với kẻ kia. Có phải vì tình cảm của chi. Hai Cà là tình cảm của người thôn nữ chất phác, quê mùa. Còn những cuộc tình mà anh Út Chót trải qua là giả tạo vì quen rồi vai diễn trong từng đêm trên sân khấu?

Ba mươi năm. Người xưa của cô Hai Cà đã lầm lũi trở về. Cô Hai Cà vẫn đấy. Con kinh Cùng vẫn ngày đêm với con nước lớn ròng. Mùa bông bằng lăng nở vẫn để rụng rơi theo dòng những cánh hoa tàn phai trôi giạt. Bến nước nhà cô Hai Cà vẫn đấy; anh Út Chót chợt thấy thân thương quen thuộc như thuở nào, một thời trai trẻ của anh. Ba mươi năm, anh đã rời xa nơi này để sống cuộc sống không phải là mình, không giữ được mình. Cho đến bây giờ anh mới nhận ra điều đó. Giờ đây, Út Chót hay là nghệ sĩ Trường Giang đang hết thời và nghiện ngập.

Giờ đây, anh liêu xiêu tìm về bến nước quê nhà tìm về người khán giả đầu tiên trong cuộc đời mình.
Có lần anh đến tụ điểm ca hát ở trung tâm sinh hoạt văn hóa của huyện xin được ca vài bản để góp vui và kiếm tiền. Anh xưng là nghệ sĩ Trường Giang, tên anh của một thời vàng son. Người phụ trách chương trình bảo rằng đã từng mến mộ giọng ca và tên tuổi của anh nhưng không có chỗ để xếp anh vào chương trình biểu diễn. Anh tự thấy hổ thẹn, vì biết người ấy từ chối anh do bộ dạng tiều tụy của anh. Anh thấy oán giận mình hơn là thái độ phũ phàng của người phụ trách đội văn nghệ huyện. Anh đã nguyền rủa chính mình: “Đáng đời mày chưa, tên nghệ sĩ hết thời, nghiện ngập”. Vậy mà ngày xưa, ngày còn ngất ngưởng trên đỉnh vinh quang, anh đã từng là thằng bội bạc.

Đó là đêm hát vào dịp cúng đình, vẫn với gánh hát nghèo của ông bầu Tèo mấy năm về trước ông bầu Tèo nghe tin nghệ sĩ Trường Giang về quê giỗ cha liền cho người bơi xuồng đi rước. Anh đã cười lớn, nói với người đi rước anh:
– Ông bầu Tèo tưởng tao còn là thằng Út Chót hồi nẳm đi hát kiếm cơm, không dám hỏi tiền cữ sao? Về đi! Nói lại với ổng là tao mắc nhậu!
Ông thầy đàn Ba Thời đã già cũng đang có mặt trong đám giỗ, vỗ vai người học trò cũ của mình:
– Út Chót! Mày vì tao? Mày ra hát giúp cho gánh ổng, để bầu đoàn của ổng kiếm chút ít cơm gạo mà sống qua ngày. Một đêm này thôi! Chẳng qua là ống muốn mượn danh tiếng của mày mà quảng cáo đặng bán vé cho sung. Với lại, dịp này cũng là dịp cúng đình, có mày về hát, bà con xứ mình cũng nở mày, nở mặt.
– Trời! Chú biểu ngặt không! Con bây giờ mà đi hát cho gánh ông bầu Tèo, hát đám cúng, đám cưới… Thiên hạ đồn rùm beng, “bể tiếng” chết! Thôi! Nhậu đi chú ơi? Đời còn thiếu gì chuyện để lọ

Ông Ba Thời ra về mà chẳng nói một lời nào. Người già vốn liệu lời, ông đã không nói những điều muốn nói cùng Út Chót. Hôm ấy, Út Chót không xem việc ông thầy đàn lặng lẽ bỏ về là trọng. Anh nhậu nhẹt xong, rời khỏi kinh Cùng mà chẳng đến chào từ giã người thầy, người bạn năm xưa. Từ ấy đến nay đã hơn cả chục năm. Khi anh biết như thế là mình có lỗi thì người thầy năm xưa đã không còn sống trên cõi đời này. Giờ đây, anh ân hận cũng quá muộn màng. Anh muốn đến nhà thầy để thắp một nén nhang tạ tội.

Cây đàn phím lõm trên vách còn kia. Di ảnh ông Ba Thời với ánh mắt và nụ cười khoan dung như dành riêng cho Út Chót. Cô Hai Cà vẫn đấy. Cô đã tròm trèm ở tuổi năm mươi. Cô đang bước vào tuổi già, như anh. Chỉ ánh mắt cô nhìn anh là vẫn còn tươi trẻ. Đó là ánh mắt ngợi khen anh, thay cho tràng vỗ tay tán thưởng của cô dành cho anh, năm xưa, khi anh hạ giọng xuống xề. Năm xưa, cô ngồi đó, ở góc bộ ván ngựa này, nghe cha cô đàn và anh hát, sau khi nấu xong nồi cháo gà hoặc vịt bưng lên. Bây giờ, cô vẫn ngồi đó, nhìn anh, lặng lẽ. Anh ngồi xuống, ở đầu này bộ ván ngựa. Anh muốn nói gì đó với cô nhưng không biết bắt đầu từ ở chỗ nào.
– Sao tới giờ cô Hai còn ở vậy?
Im lặng. Anh đọc trong ánh mắt cô Hai Cà một lời trách nhẹ nhàng. Anh biết mình đã có lỗi với cô Hai Cà, suốt một đời người, suốt mấy mươi năm. Vậy mà cô Hai Cà vẫn ngồi đó nhìn anh với cái nhìn khích lệ, như năm xưa cô dành cho anh khi anh còn tập hát, tập đàn.

Không? Anh không còn xứng đáng với tình cảm bao dung và trong sáng của cô Hai Cà. Anh đứng lên.
– Gấp gì mà về, anh Út?
– Bến nước kinh Cùng này còn có chỗ cho tôi sao?

Nguyễn Lập Em

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s