Hạnh

close

Tôi dừng xe tránh chiếc xe con đậu sát một cây xăng bên đường và lướt nhìn bóng một phụ nữ thấp thoáng sau tay lái. Tôi vờ như không để ý, mặc dù tôi rất thích hình ảnh một phụ nữ đẹp lái xe con, trông thanh lịch và quý phái. Trong thẳm sâu tâm thức của mình, xưa nay, tôi luôn kiếm tìm sự quý phái, nhưng chỉ thấy lam lũ, khốn khó. Cửa xe mở. Người phụ nữ khoảng bốn mươi xuống xe, đi về phía tôi:

– Em chào thầy. Thầy còn nhớ em không?

Tôi ngẩn người một chút. Bộ nhớ vận hành rất nhanh:

– Lâu lắm thầy không gặp?

– Thầy vẫn còn nhớ tên em?

Nhận ra người nhưng để nhớ tên, quả là một thách thức. Tôi dạy học mấy chục năm trời, bao nhiêu thế hệ học trò đi qua, làm sao có thể nhớ hết, chỉ trừ những trường hợp thật ấn tượng. Với cô học trò này thì thật là không thể quên:

– Quên làm sao được cô Hạnh!

Niềm hân hoan hiện trên ánh mắt Hạnh. Cô không ngờ tôi vẫn còn nhớ tên người học trò năm xưa. Hạnh mỉm cười rất dịu, vẫn như ngày nào. Hạnh cười, cả khuôn mặt và ánh mắt lóng lánh.

– Trước đây em ở Nhật mà! Em về Việt Nam chơi hay làm ăn?

– Em về làm ăn ở Việt Nam. Thầy hơi gầy hơn trước, già đi nhiều.Tóc thầy bạc nhiều quá.

Tôi hơi ngậm ngùi một chút về sự tàn phai và về cái sự thật rằng, thời gian có thể làm cho bao mầm ươm vươn lên , chữa lành bao vết thương nhưng cũng chôn vùi bao kiếp con người.

– Từ năm bảy chín đến nay, hai hai năm rồi, làm sao còn trẻ được, nhưng trông còn được không?

– Thầy vẫn phong độ như xưa!

Cả hai thầy trò cùng cười. Tôi biết đó chỉ là một câu xã giao. Tôi nhìn trong xe có ý tò mò xem có ông xã hay người thân nào của Hạnh không. Xe trống. Hạnh đi một mình, tôi dò hỏi:

– Tài xế đâu mà em lái xe?

– Em tự lái lấy. Em thích thoải mái.

– Còn ông xã?

– Có cũng như không. Ngày xưa thầy nhận xét về em, em nghiệm lại thấy không sai điều gì? Lúc nào rảnh thầy ghé em chơi. Em mới xây nhà cho mẹ em. Về Việt Nam làm ăn, em sống với mẹ, để an ủi bà cụ một chút.

Hạnh bắt tay tôi thật chặt rồi xin phép đi. Cô đang có hẹn.

Chiếc Camry nghiến sỏi trên sân rồi bay đi. Tôi nhìn theo bâng khuâng. Cuộc đời! Không thể ngờ được. Mấy chục năm thầy vẫn cọc cạch chiếc xe cũ còn trò thì xe hơi đời mới. Cái giá trị cuộc đời là gì? Hiển nhiên chiếc xe cọc cạch của tôi không sánh được với chiếc Camry mấy trăm triệu đồng của Hạnh, và dĩ nhiên, anh ngồi xe hơi sẽ nhìn anh đi xe đạp bằng nửa con mắt, nếu không nói là khinh thường. Tôi cũng đã có lúc được ngồi ké xe con máy lạnh, bỗng dưng thấy mình sang trọng hẳn lên. Nghĩ vậy, tôi tự hỏi, không biết Hạnh nghĩ gì về tôi. Hình ảnh ông thầy ngày xưa có còn trong mắt Hạnh hôm nay. Xem ra Hạnh chân tình và quý mếân tôi thực lòng, nếu không Hạnh cứ giả lơ không biết và vù xe đi, nào có bận tâm gì.

*

Đó là một vila cỡ nhỏ trong một khu vườn xanh tươi. Hạnh dẫn tôi đi giới thiệu một vòng. Không thiếu tiện nghi gì. Nhà kiểu Pháp vừa sang vừa lịch sự và thân thiện. Tôi hơi choáng vì sự sang trọng của căn nhà. Tất cả đều hàng ngoại cao cấp. Căn nhà ấy tôi chỉ được thấy trong phim ảnh. Bất giác căn nhà chị Dậu của tôi hiện ra, tôi thấy mình nhỏ nhoi trong sự nghèo nàn kinh niên của bao nhiêu đời. Những kẻ nghèo hèn chôn mình trong xó tối, có bao giờ dám mơ được bay trong sự sang trọng. Tôi phải nâng mình lên. Dẫu sao tôi cũng là ông thầy ngày xưa của Hạnh. Cái thanh bạch của những người thầy đời xưa không còn phù hợp với cuộc sống cuốn theo vật chất này nữa. Nghèo thì chúng khinh. Những ông thầy gầy gò, đạp xe đạp, cặm cụi đèn sách, sĩ diện hão, giờ chỉ là con tép trong con mắt khinh người của những kẻ có tiền. Đã có lần, một anh nhà giàu nói toang toang với tôi: “Con tôi năm nay lên lớp Chín, tôi nhờ thầy kèm giúp cho cháu môn Văn. Một tháng tôi gửi thầy ba trăm ngàn đồng. Chỗ anh em, cứ nói thẳng nói thật. Thầy cứ đến. Cháu có phòng riêng. Chúng tôi bận công ăn việc làm, trông nhờ vào các thầy. Thầy tính, tôi phải cho cháu học thêm năm môn. Mỗi môn ba trăm ngàn, riêng môn toán ông thầy đòi bốn trăm, vị chi một triệu sáu, còn tiền trường, tiền sách vở và các khoản vui chơi của cháu, mỗi tháng tôi cứ để sẵn cho cháu ba triệu”. Tôi nhẩm tính, lương thầy giáo một tháng các khoản chừng sáu trăm, nhưng một đứa học trò lớp chín được bố mẹ chi cho ba triệu, thành ra họ tưởng rằng ba trăm ngàn trả cho một ông thầy là có thể mua được ông thầy. Dù nghèo, tôi cũng không thể bán mình vì tiền. Coi thường nhau quá vậy? Tôi từ chối thẳng. “Cám ơn bác có nhã ý. Thực sự tôi rất bận, không giúp cháu được”. Hắn nói vuốt đuôi: “Tiếc quá, cháu chỉ ao ước được học thầy. Nó bảo với tôi, thầy dạy hay lắm. Đành vậy, hẹn thầy khi cháu lên cấp ba, nhất định thầy phải giúp tôi đấy nhá”.

Nghĩ đến cung cách của những kẻ giàu có hợm hĩnh, tôi phải tự điều chỉnh phong độ. Tôi đang ngồi trong một căn nhà sang trọng. Biết đâu Hạnh lại không nhìn tôi như vậy.

Hạnh mang ra một chai rượu Tây:

– Thầy dùng với em một chút.

Hạnh rót ra hai ly nhỏ. Rượu ánh lên màu nho và thoảng hương thơm. Hình như trong ly rượu có cả sự chân thành và nồng nàn của Hạnh. Tôi cười:

– Em mở làm gì, phí cả chai rượu đi, cho thầy ly nước lọc là đủ rồi.

Tôi giật mình về câu nói của mình, rặt một giọng nông dân như anh Dậu. Dù sao, chai rượu kia bằng tiền một tháng lương của tôi, tiếc quá.

– Có gì đâu phí thầy. Em uống thứ này quen rồi. Ở Nhật có khi rất lạnh, em thường uống một ly cho lòng đỡ hoang vắng. Rượu làm ấm người, nhưng cũng làm tâm hồn em lãng mạn được một chút. Cuộc sống khô khốc quá, em thường uống rượu một mình, chung quanh chẳng ai thân thích cả. Những lúc ấy em thèm về Việt Nam, thèm được sống lại những ngày xưa. Giờ được gặp lại thầy thế này, thầy có biết là em vui thế nào không? Rất tiếc em không còn bé bỏng như ngày xưa. Xin cụng ly với thầy, chúc thầy sức khoẻ. Em thấy thầy vẫn như ngày nào.

Cái cách nói chuyện của Hạnh vẫn quyến rũ. Giọng nói dịu nhẹ, chân thành và mơ mộng, gần gũi và nồng nàn, lúc nào cũng cần sự chia sẻ, lúc nào cũng muốn trở nên bé nhỏ, muốn được yêu thương.

– Thầy kể cho em nghe về thầy đi?

– Thầy thích nghe chuyện của em hơn. Chuyện bên Tây, bên Nhật nó hấp dẫn hơn. Cuộc đời thầy giáo, em biết rồi mà? Người ta bảo, giáo chức thì “giức cháo”, thầy giáo thì “tháo giày” lội chân đất. Sư phạm thì “ăn như sư, ở như phạm ..”, mấy chục năm rồi vẫn thế.

Hạnh cười ngất :

– Thầy khéo khôi hài. Cứ giả như sự thật là vậy, thế sao thầy sống được?

– Thầy cô giáo là thánh mà. Không cần phải ăn, chỉ uống nước mưa thôi, uống nước mưa mà rao giảng những tín điều. Có vậy nó mới linh. Trong đầu óc người ta, thầy giáo phải nghèo mới là thầy giáo. Thầy giáo mà bụng bự thì không còn là người giáo viên nhân dân nữa, đó là những anh áp phe. Thế nên thầy cốâ giữ vòng eo cho đừng nở ra, cố giữ lấy cái xe đạp cọc cạch, để giữ lấy sự trong sạch ngây ngô của mình. Khối anh cán bộ ở nhà lầu, đi xe con, nhưng khi đến trường gặp gỡ thầy cô, cũng ăn mặc tuềnh toàng cho nó có tác phong quần chúng.

Hạnh trố mắt nhìn, ngỡ điều tôi nói là thật:

– Em thấy bây giờ ở Việt Nam nhiều người đi xe con lắm. Nhà cao tầng mọc lên như nấm sau mưa. Nhà hàng, chỗ ăn chơi lúc nào cũng đông nghịt, lại có cả khu cờ bạc ở Đồ Sơn nữa. Dân mình giàu thế em nghĩ thầy giáo cũng phải khá chứ. “Muốn con hay chữ” thì phụ huynh phải “bắc cầu kiều” và “yêu lấy thầy”, em nghe nói: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” mà?

Tôi hơi ngạc nhiên:

– Hạnh cũng rành Việt Nam dữ ha! Dường như Hạnh cũng là một trong những người thích đùa của A-zit Nê-xin nữa.

Thầy trò cùng cười.

– Thầy lại đùa, lại lảng tránh kể chuyện thầy cho em nghe rồi, sao thầy khôn quá vậy? Luôn luôn che giấu những ý nghĩ thật của mình.

– Chuyện gì Hạnh cũng biết cả rồi. Chẳng có gì che giấu được dưới ánh mặt trời. Thầy mong Hạnh nghĩ về thầy như ngày xưa, cái thời thơ ngây lãng mạn nhìn cuộc đời nó đẹp hơn. Từ Thức từ giã cõi tiên về cõi trần, bi đát lắm.

Hạnh tỏ ra hiểu:

– Dường như thầy là Từ Thức ở trong mộng của em. Giờ gặp thầy em ước gì được sống trong không gian xanh ngát của tuổi học trò. Lúc ấy, thầy còn rất trẻ.

*

Hạnh học lớp 12 năm 1979. Tôi là giáo viên dạy Văn. Hạnh rất gần gũi với tôi. Cũng dễ hiểu thôi. Hạnh học văn rất khá, lại trong ban văn nghệ của trường, tính tình chân thật dịu dàng. Mọi việc của lớp, Hạnh làm rất tốt. Hạnh nhiệt tình và có trách nhiệm.

Hạnh có cảm tình với Tuấn, một bạn trai trong lớp, nhưng Hạnh không để lộ ra bên ngoài điều gì. Tôi luôn nhắc Hạnh phải lo học đã, đừng để chuyện tình cảm ảnh hưởng. Hai đứa thường đi học chung, trình diễn chung những tiết mục văn nghệ, chia sẻ trách nhiệm những công việc lớp giao, có vẻ tâm đầu ý hợp. Tôi cũng thầm cầu chúc cho Hạnh được hạnh phúc như chính cái tên cha mẹ đã đặt. Cả lớp gần như đồng tình với mối quan hệ ấy. Chỉ một vài bạn nữ eo xèo. Chuyện tình học trò thường nắng mưa bất chợt. Lâu lâu hai đứa lại mặt trăng mặt trời với nhau. Những lúc ấy Hạnh học xuống hẳn. Tôi hiểu tình yêu ở Hạnh là có thật. Xưa nay tôi vốn hoài nghi về những mối tình học trò, chẳng bao giờ trở thành tình yêu thật sự cả. Tuổi học trò đuổi bắt nhiều mộng đẹp quá, thế nên tình yêu cũng chỉ là một cuộc chơi đuổi bắt, chập chờn. Chàng yêu nàng nhưng nàng lại thích người khác, mà người khác lại săn đuổi người khác nữa. Rồi chia tay, chẳng còn lạ gì khi dòng đời cuốn trôi mỗi con người đi mỗi nẻo. Lúc gặp lại nhau thì tóc đã trắng phau, hoa đã tàn, chỉ còn ngậm ngùi. Nụ cười nhăn nheo.

Kỳ thi Tú Tài xong, trường vừa nghỉ hè thì Hạnh tìm đến gặp tôi. Hạnh gầy hẳn đi. Khuôn mặt tối sầm lại. Mắt trũng sâu. Mái tóc che quá nửa khuôn mặt. Nét thống khổ làm cho Hạnh rũ xuống. Tôi không hiểu:

– Có chuyện gì vậy Hạnh?

Hạnh ngước nhìn tôi. Đôi mắt đầy bóng tối:

– Em đau khổ quá thầy ơi!

– Gia đình có chuyện buồn à?

– Chuyện của em!

– Em vừa tốt nghiệp xong, vui mới phải, sao lại buồn?

– Tuấn bỏ em đi rồi. Em không ngờ.

– Tuấn đi bao giờ?

– Lần chia tay cuối năm. Tuấn biệt tích. Em tìm khắp nơi không thấy.

– Mùa hè, mỗi người một nơi, chuyện ấy là bình thường, có gì làm em đau khổ.

– Thầy biết em yêu Tuấn mà?

Hạnh kể cho tôi nghe đêm diễn văn nghệ 26 tháng ba tại sân vận động, diễn xong hai đứa ở lại, ngồi với nhau thật khuya trên bãi cỏ. Đến gần sáng Tuấn mới đưa Hạnh về. Hạnh bảo hai đứa yêu nhau thật lòng. Tuấn định học xong sẽ xin gia đình cưới Hạnh. Gia đình Tuấn sẽ xin việc cho Hạnh làm ở thành phố. Tuấn có ông bác làm chức vụ cao ở một cơ quan, xin việc dễ dàng. Hạnh tin ở Tuấn, chẳng giữ gìn điều gì. Ngày ra trường sẽ là ngày Hạnh với tay đến bến bờ hạnh phúc.

Hạnh lấy khăn chùi nước mắt ngước nhìn tôi cầu cứu:

– Em phải làm sao bây giờ?

– Chẳng lẽ Tuấn lại xử tệ với em như vậy?

– Sự thật mà thầy! Bây giờ em chỉ còn muốn chết thôi. Nhưng em thương mẹ em quá.

– Đừng nghĩ dại. Thầy chia sẻ những nỗi khổ của em. Tôi nhìn thẳng vào khuôn mặt ướt sũng nước mắt của Hạnh: – Thầy nghĩ thế này. Tình yêu quý giá thật. Nó là chính trái tim của mình. Chẳng ai có thể rứt trái tim mình ra khỏi lồng ngực mà ném xuống vũng bùn. Dẫu thế nào cũng phải giữ cho nó vẹn nguyên. Những gì không thuộc về mình thì không thể giữ được. Nói cho cùng thì ta chẳng thể giữ được bất cứ sự gì trên đời ngoại trừ trái tim mình, mình sẽ đem theo nó xuống mộ huyệt. Tuấn không xứng đáng với em, thì em hãy gạt Tuấn ra khỏi trái tim em. Cuộc sống còn bao nhiêu giá trị tốt đẹp, đâu chỉ có tình yêu. Xung quanh em còn bao người quý mến, em đâu có đơn độc. Em vẫn là nguồn an ủi của mẹ. Em thử nghĩ xem, nếu mẹ biết em nghĩ dại, mẹ sẽ buồn đau thế nào? Dù hoàn cảnh có thế nào cũng phải sống mạnh mẽ. Vấp ngã thì đứng lên, có sao đâu. Xung quanh mình có nhiều người vấp ngã. Thành bại là chuyện thường tình xưa nay. Có vậy con người mới trưởng thành lên được. Em xem đó, xung quanh mình còn bao nhiêu người khốn khổ hơn thầy trò mình, nhưng mà họ vẫn sống vui vẻ. Đời sống là quý giá nhất. Quý giá hơn nữa là giá trị mỗi con người trong cuộc đời này. Em có giá trị của em, em có thể đem đến nhiều giá trị tốt đẹp cho mọi người. Hãy bước qua vực thẳm, vui vẻ lên mà sống.

Hạnh gục xuống nức nở. Tôi để yên cho Hạnh tắm gội trái tim mình bằng nước mắt. Trái tim ấy sẽ trong trẻo và tinh ròng, sẽ không còn những vết đen bầm ứa máu, có vậy Hạnh mới gượng dậy được.

Hạnh ngước mắt nhìn tôi. ánh mắt có vơi bớt bóng tối:

– Em cám ơn thầy đã không trách mắng em.

– Thầy đã đi qua thời trẻ như em. Bỏ qua quá khứ ấy đi.

– Em sẽ nghe lời thầy. Nhưng thầy bảo em làm gì bây giờ?

– Hoặc tiếp tục đi học, hoặc tìm một việc gì đó để làm, vừa kiếm sống vừa giúp mẹ. Lúc nào đuối sức, cứ tìm bạn bè thầy cô trò chuyện, rồi thời gian sẽ chữa lành mọi vết thương, dù đó là những vết thương nặng.

Hạnh ra về, dáng đi hiu hắt. Mái tóc dài phủ kín cả người trông có vẻ tang tóc. Hạnh đã mất tất cả. Lòng tin yêu bị đánh tráo bởi sự phản bội. Nỗi đau ấy không thể vơi cạn trong một sớm một chiều. Nỗi đau và sự ê chề còn dày vò mãi. Âm thầm mà chịu đựng Hạnh ạ. Hãy sống cho mạnh mẽ . Ngước mặt lên mà bước đi, rồi em sẽ tìm thấy con đường có ánh sáng. Tôi thầm nghĩ như vậy, dù biết rằng đó chỉ là những lời trong sách vở.

*

­ Bẵng đi một thời gian, tôi gặp lại Hạnh. Khuôn mặt Hạnh có sáng hơn. Thầy trò lại tâm sự. Tôi biết tôi chỉ chia sẻ những nỗi đau âm thầm của Hạnh, với hy vọng giúp Hạnh nhẹ nhàng được một chút u uất, và may ra làm loé lên một chút ánh sáng cuối đường hầm số phận của Hạnh. Mỗi con người khi vào đời, là dấn thân vào con đường số mệnh của mình. Con đường ấy đã có sẵn. Chính mình sẽ để lại những dấu tích trên con đường ấy. Có lúc ta hoạch định rất kỹ cho một cuộc hành trình và tin rằng ta có thể vượt qua thung lũng mù mịt hay có thể trèo lên tận đỉnh núi cao của tham vọng. Nhưng khi đã vượt qua được những ảo tưởng, nhìn lại, ta thấy mình vẫn chưa nhảy qua khỏi bàn tay số phận, như chuyện Tôn Ngộ Không chẳng thể nào vượt qua bàn tay Như Lai, đành phải nằm chết dí dưới chân núi Ngũ Hành. Hãy ráng chờ đợi thời cơ đến Hạnh ạ. Tôi thầm nghĩ như vậy.

– Thầy có khoẻ không?

– Cũng hơi xuống cấp rồi, trông ngoài thì phồn vinh vậy, nhưng là phồn vinh giả tạo đó. Còn Hạnh, giờ sao rồi?

– Em đang làm ở chỗ đan lát mây tre!

– Sống được không?

– Người ta làm hàng xuất khẩu, nếu mình chịu khó, làm được nhiều sản phẩm thì cũng sống được.

– Tâm hồn lúc này thế nào rồi?

– Em có chuyện định hỏi ý kiến của thầy? Nhưng thầy phải nói thật lòng mới được, đừng vẽ ra những điều lãng mạn như ngày xưa, cái ngày nghe thầy nói, em thấy cuộc đời này cái gì cũng đẹp. Em đã xây bao mơ ước, nhưng mà…

Hạnh rào đón quá. Tôi không dám gợi lại những mất mát của Hạnh. Nhưng Hạnh có vẻ trưởng thành hơn ngày xưa. Cô đã hiểu ngày xưa. Ngày xưa thầy cô toàn nói chuyện ảo tưởng. Cuộc đời không đẹp, không thiện như thầy cô đã vẽ vời ra. Cô cũng hiểu rằng thầy cô cũng chỉ sống trong những ảo tưởng, hay có thể là chẳng bao giờ thầy cô nói thật, lúc nào cũng lãng mạn. Nhưng có thể cô không biết rằng, lãng mạn cũng là một cách sống, bởi vì cuộc sống thực đã quá nhọc nhằn rồi, không mơ mộng một chút thì làm sao sống được. Cũng phải tìm lấy những cái đẹp ngay trong sự khốn khó để mà thấy cuộc đời này là chỗ để sống, không có cuộc đời nào khác ngoài cõi người này… Cứ như ông Nam Cao, chỉ nói lên tiếng đau khổ của những kiếp lầm than, xung quanh chỉ thấy đói , thấy nhục, thấy chết chóc, cắt cổ, ăn bả chó và giãy giụa dữ dội thì cuộc đời này bi đát quá. Ông Thạch Lam hay ở chỗ là nhìn ra cái đẹp ngay trong những gì đơn sơ khó nghèo và tù đọng nhất. Có bao nhiêu người nghèo, họ vẫn vui vẻ sống. Mà dân mình đã nghèo mấy nghìn năm rồi, giờ vẫn còn xoá đói giảm nghèo. Hãy cứ lãng mạn mà sống Hạnh ạ.

– Có chuyện gì vậy, chẳng lẽ chuyện quan trọng đến nỗi thầy không đủ sức nghe?

– Không phải vậy, nhưng mà em muốn nghe thầy nói thật cơ!

– Được rồi, thầy sẽ nói thật những gì thầy biết.

– Ở chỗ em làm, có một anh chàng rất thương em, anh ta có ý định đi đến hôn nhân với em, nhưng anh ta chưa biết gì về em, theo thầy em có nên nói hết sự thật cho anh ta biết không?

Tôi khựng lại một chút. Quả là vấn đề nghiêm túc và rất khó có một giải pháp tốt đẹp:

– Vấn đề là ở chỗ anh ta yêu em thế nào, tình yêu ấy có đủ sức giúp anh ta vượt qua những ích kỷ nhỏ nhen hay không? Thầy nói thật, đàn ông con trai, đứa nào cũng rất ích kỷ về những chuyện ấy. Lúc còn yêu thì mọi chuyện có thể chấp nhận, nhưng những mặc cảm về sự thật của vợ mình sẽ là con dao đâm nát trái tim anh ta, rồi chính anh ta sẽ cầm con dao ấy…

Trong mắt Hạnh tràn ngập bóng tối. Dường như Hạnh cố níu lấy một cành củi khô giữa dòng. Tôi biết rằng nói thật những điều như vậy, sẽ chỉ làm cho Hạnh đau đớn thôi, nhưng Hạnh yêu cầu mà. Tôi nhìn Hạnh:

– Nói vậy thôi, cũng tuỳ người, và còn xem gia đình anh ta nữa.

Hạnh tỏ ra hiểu biết người con trai:

– Gia đình anh là người Bắc, một mẹ một con, bà cụ cũng hiền lành và có vẻ quý mến em. Em có đến chơi vài lần. Bà cụ bảo, trông em hiền lành, có phúc có phần.

Tôi không nghĩ như Hạnh, nhưng lại sợ làm Hạnh thất vọng:

– Em biết không, người Bắc khó lắm, chuyện dựng vợ gả chồng cho con là chuyện hệ trọng. Thầy biết, không bao giờ các bà mẹ miền Bắc chấp nhận những chuyện như vậy đâu.

Hạnh lo lắng thực sự. Tôi hiểu Hạnh đang hy vọng:

– Thầy bảo em phải làm sao?

Tôi biết rằng chỉ có thời gian mới có câu trả lời đúng nhất. Mọi sự vồ vập đều không tránh được ngộ nhận bi kịch. Có lẽ tôi hơi quá cẩn trọng. Trong thâm tâm, tôi cũng biết, nhiều khi phải liều với số phận, mới mong thoát ra thế bí:

– Cứ giữ ở mức tình bạn, không để anh ta biết điều gì về em cả, thà vậy, anh ta còn giữ được hình ảnh đẹp về em ở trong lòng, và mối quan hệ vẫn sẽ giúp em mau lành vết thương cũ.

– Nhưng mà chẳng lẽ em cứ phải đóng kịch với anh ta, với lại thời gian đối với em không còn nhiều, chẳng lẽ em cứ cô độc mãi.

– Cuộc đời đúng là một sân khấu. Kẻ tỉnh táo thì diễn thành hài kịch, kẻ u mê thì diễn thành bi kịch. Em không thấy trên sân khấu tuồng hay cải lương sao, lúc nào cũng có anh hề bên cạnh những cảnh lâm ly. Hết hề, hết lâm ly là hết tuồng. Em cứ đợi đấy, rồi sẽ tới vai diễn của em. Tập dần đi là vừa. Em thất bại là vì em đã sống rất thật với trái tim mình, đúng không?

Khuôn mặt Hạnh nhàu nát tệ hại. Có lẽ Hạnh không ngờ tôi lại nói với Hạnh những điều ấy. Tôi có làm Hạnh tuyệt vọng không? Tôi biết Hạnh đã đi đến tận cùng của thung lũng tuyệt vọng. Tôi không sợ Hạnh lạc mất trong thung lũng ấy. Hạnh làm tôi giật mình:

– Sao hôm nay thầy bi quan thế, em có thấy thầy như vậy bao giờ đâu?

– Thầy vẫn vậy. Có điều trước đây em mới chỉ nhìn thấy thầy có một phía thôi. Ấy là thầy đóng kịch để nuôi dưỡng học trò trong những mộng đẹp ấy mà. Khi em vượt qua được cả bi với hài kịch, sống đến tận cùng “vai diễn” của mình, em sẽ tìm thấy chân lý.

– Vậy thầy đã tìm thấy chân lý chưa?

– Chưa!

– Thành ra thầy đang nói dối em, vậy mà em cứ tưởng thầy nói thật. Em muốn hỏi thật thầy cơ mà!

Cả hai thầy trò cùng cười. Cười để khuây khoả nỗi ưu tư, để gỡ cho ra cái mạng nhện đang quấn lấy số phận Hạnh. Tôi biết tôi bất lực trước những vấn đề Hạnh đặt ra.

*

Tôi được tin mẹ Hạnh lâm bệnh nặng, Hạnh phải nhờ vả nhiều người. Rồi chuyện phải đến đã đến. Một gia đình ở cùng xóm thường qua lại giúp mẹ Hạnh. Lúc đầu, Hạnh nghĩ là tình lối xóm, sau Hạnh mới hiểu ra. Nhà họ có một con trai. Họ đã chấm Hạnh. Họ khen Hạnh trước mặt mẹ Hạnh. Họ bảo Hạnh được cả người, cả nết. Mẹ Hạnh ốm là một dịp để người ta bày tỏ tình nghĩa muốn thông gia. Khi mai mối đặt lời, bà cụ ưng thuận ngay. Bà cụ bảo:

– Người tốt là người giúp đỡ mình khi mình hoạn nạn. Mẹ thấy người ta giúp đỡ nhà mình thực lòng. Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống. Người ta tốt thì con người ta cũng tốt. Cây nào quả đó. Con suy nghĩ kỹ đi. Đừng phụ lòng người ta.

Hạnh ngập ngừng :

– Nhưng mà con không yêu con người ta.

Bà cụ xác quyết :

– Chuyện vợ chồng, cần con người tình nghĩa. Yêu! Yêu! … Con không thấy bao kẻ yêu khốn nạn hay sao? Vợ chồng một đời, trước lạ sau quen, cái tình đến sau cái nghĩa mới là cái tình thật. Con có thấy những cánh bướm chập chờn trên những đoá hoa không? Hời hợt và giả dối hết. Tình không nghĩa là thứ tình của những cánh bướm, mẹ sợ còn tệ hơn thế kia.

Những lời của mẹ làm tim Hạnh đau buốt. Nhưng đó là sự thật. Với mẹ thì đó là chân lý. Hạnh nhắm mắt lại. Bóng tối! Bóng tối… Chẳng lẽ chân lý cũng là bóng tối. Hạnh mở mắt nhìn mẹ trân trân, nước mắt chảy xuống. Hạnh không lau nước mắt giấu mẹ như trước đây. Mẹ không hiểu.

Thế rồi Hạnh lấy chồng. Hạnh nhắm mắt bước qua cuộc đời lần thứ hai với tất cả những mặc cảm. Bây giờ thì Hạnh trở thành kẻ lừa gạt. Hạnh lặp lại chính sự lừa gạt của Tuấn. Lừa gạt không chỉ chồng Hạnh mà cả người mẹ chồng rất quý rất thương Hạnh. Sự lừa gạt nào cũng sẽ bị lật tẩy. Nhưng mà, cũng giống như Hạnh, nỗi đau đớn và sự nhục nhã đã đè chết người chồng Hạnh. Anh ta không kêu lên được tiếng nào. Sự ti tiện, ích kỷ là con dao ngày ngày đâm vào tim anh ta. Anh ta uống rượu, giả say, lấy cớ này, cớ kia chửi Hạnh. Hạnh chỉ im lặng. Nhưng Hạnh càng im lặng, anh ta càng lên nước. Bây giờ, mỗi lời anh ta mở miệng, thì tiếng “con này, con kia” văng ra trước. Anh ta không còn giấu giếm nỗi nhục nhã của anh ta trước mọi người. Nhưng mọi người dường như không hiểu. Họ bảo anh ta là thằng chồng vũ phu. Vợ hiền lành như vậy là phúc đức mười đời cho nhà anh ta. Có vợ hiền không biết giữ thì có ngày con giun xéo lắm cũng oằn, huống gì là con người. Thế là anh chồng trở thành diễn viên hài, còn Hạnh là diễn viên bi kịch rất đạt. Người ta lên tiếng bênh vực Hạnh, bố mẹ chồng cũng che chở Hạnh, còn mẹ Hạnh chỉ đấm ngực ăn năn:

– Thật mẹ không ngờ. Khổ thân con tôi quá. Cầu Trời Phật cho thằng chồng nó biết nghĩ lại.

Hạnh vẫn im lặng, không hé nửa lời với mẹ. Thân xác và tâm hồn Hạnh đã cứng đờ. Khi bị đau quá, người ta không còn thấy đau nữa. Hạnh gục xuống. Rồi lại vùng đứng dậy. Nhìn bốn phía, không có lối ra. Hạnh cũng không còn biết mình sống hay đã chết.

Nhưng Hạnh thì vẫn sống. Chỉ có chồng Hạnh là chết. Có lẽ lần này anh ta chết thật, chấm dứt cái vai diễn anh ta đang đóng trong vở kịch cuộc đời Hạnh. Một lần anh chồng say xỉn, buổi tối đi nhậu về, phóng xe Honda, tông phải con chó băng qua đường. Bệnh viện không cứu kịp. Chính Hạnh đã đẩy anh ta đến cái chết. Đứng bên mộ chồng, Hạnh âm thầm nói lời xin lỗi người đã khuất. Cám ơn anh ta, vì anh ta đã mang về bên kia thế giới cái góc khuất đời Hạnh mà bấy lâu nay Hạnh luôn che giấu.

Nhưng Hạnh không thể sống được với những lời đinh óc của hàng xóm, họ mơ hồ về con người Hạnh. Họ bảo chính Hạnh gây ra cái chết cho chồng. Họ xa lánh Hạnh những khi Hạnh đi qua mặt họ. Sau lưng Hạnh có cả lời nguyền rủa. Chỉ có hai bà mẹ là đau khổ. Vì họ thương con.

Rồi Hạnh trở nên liều lĩnh. Thử liều với cuộc đời xem sao. Hạnh đã sống tử tế, sống chân thật, yêu thương, đã ẩn nhẫn hết sức mình, đã chịu đựng đến kiệt sức, nhưng số phận vẫn không khá hơn, tai kiếp và tai kiếp, vì đâu? Phải liều thôi! Cứ liều đi, phải thách đố số phận, bắt số phận theo ta. Thế là Hạnh vượt biên.

Tôi cầu cho Hạnh đến được bến bờ bình yên.

Tôi nhận được thư Hạnh gửi từ Nhật. Hạnh viết, chỉ khi mình rời khỏi cái nôi mình đang sống mà dấn thân vào một nơi vô định, mình mới hiểu được những giá trị tốt đẹp của nó. Bây giờ Hạnh lại mất tất cả. Sự tổn thất còn gấp nhiều lần trước đây. Trước đây Hạnh chỉ mất người yêu, mất người chồng, mất danh dự, nhưng Hạnh còn cha mẹ, còn người thân ấp ủ chở che; còn thiên nhiên đất nước xanh tươi mà tung tăng, con đường chất ngất kỷ niệm, ấm lòng những lúc cô đơn … Khi con thuyền lênh đênh giữa đại dương mù khơi và đầy giông bão, Hạnh mới thấy con người thật nhỏ bé và yếu đuối. Hạnh đối diện với cái chết, chới với và cô độc. Hạnh thấy mình liều lĩnh dại dột. Nhưng không còn cách nào để quay trở lại. Đến ngày thứ ba con thuyền bị chết máy. Cũng là ngày thứ ba Hạnh rũ người, không còn gượng dậy được nữa. Sự sợ hãi và sóng đã làm cho Hạnh chìm vào cơn say vật vã, nôn ói đến mật xanh mật vàng. Hạnh chỉ còn lờ mờ những hình hài hư ảo. Có một con tàu nhỏ áp sát con thuyền của Hạnh, có tiếng súng nổ, hai người đàn ông lái thuyền rơi xuống biển. Có mấy người nhảy sang thuyền của Hạnh. Chúng lấy đi tất cả đồ đạc và bắt đi các phụ nữ còn khoẻ mạnh. Hình như chúng có lôi chân Hạnh mấy lần, Hạnh mềm nhũn. Chúng vứt Hạnh xuống thuyền như vất một xác chết. Lại có tiếng súng nổ. Chiếc tàu cướp ấy rẽ sóng biến vào sương mù của biển. Con thuyền của Hạnh chỉ còn là chiếc lá xoay mòng giữa biển. Khoảnh khắc sau đó, một chiếc tàu khác cặp sát chiếc thuyền của Hạnh. Đó là một chiếc thuyền Hải quân đi tuần. Họ đem những người còn sống sót lên tàu. Có hai người phụ nữ như Hạnh và mấy đứa nhỏ. Hai người đàn ông còn lại bị bọn cướp biển bắn vào chân giả chết nên thoát. Khi tỉnh dậy Hạnh mới biết mình còn sống sót. Kinh hoàng như chưa bao giờ kinh hoàng thế. Sự tàn bạo của biển, sự tàn bạo của bọn cướp biển, là những điều chưa bao giờ Hạnh có thể tưởng tượng ra được. Hạnh hiểu hơn bao giờ hết sự mong manh bất lực của kiếp người. Sự sống quả thực quý giá. Những đau khổ mà Hạnh đã chịu trước kia đã được biển và sự tàn bạo của nó rũ sạch. Sống sót được là niềm hạnh phúc quá lớn đối với Hạnh, lần đầu tiên Hạnh cảm thấy hạnh phúc, và lần đầu tiên Hạnh cám ơn cha mẹ đã đặt cho mình cái tên có ý nghĩa là may mắn. Hạnh sống sót được là nhờ may mắn. Nếu Hạnh không bị say sóng gần chết thì giờ này không biết sẽ thế nào. Hạnh đã nghe những tin về bọn cướp biển bắt đàn bà phụ nữ hãm hiếp rồi bán vào nhà chứa, ở đó suốt đời làm nô lệ tình dục, có bọn mặt rô đầu đinh cai quản, chết rũ với sự ô nhục và bệnh hoạn. Nghĩ vậy Hạnh cám ơn trời Phật đã không để cho Hạnh lâm vào hoàn cảnh địa ngục ấy. Niềm tin chợt loé sáng trong tâm linh Hạnh.

Hạnh được đưa lên bờ, đó là một hòn đảo ở ngoài khơi Thái Bình Dương gần với Nhật. Ở đây Hạnh được chăm sóc y tế và được hưởng quy chế tị nạn nhân đạo. Hạnh xin sang Nhật. Hạnh tìm được việc làm ở một cửa hàng ăn uống của một người Việt. Hạnh hiền lành thật thà lại chịu thương chịu khó nên rất được họ quý mến.

Bây giờ Hạnh đang sống một kiếp khác. Cái bản năng sinh tồn của một con người quả thực mạnh mẽ. Hạnh đã cảm nghiệm điều ấy ở những giây phút sống tưởng như là những giây phút sau cùng của đời mình. Tâm hồn Hạnh bừng tỉnh sau những u mê dài. Hạnh không còn là Hạnh của ngày xưa với đầy rẫy những mặc cảm tủi nhục. Ở đây chỉ có làm việc và làm việc. Mọi người đều lao vào công việc với những ước mơ thăng tiến. Những chuyện tình cảm, những mối quan hệ không còn là vấn đề nặng nề. Ai cũng vui vẻ sống. Họ sống hối hả, sinh động và vô tư. Hạnh cũng bị cuốn vào cái nhịp sống ấy. Hạnh học được nghề của nhà hàng, rồi Hạnh quen vài người Việt Nam khác, cùng với họ mở nhà hàng. Lúc đầu có chật vật, nhưng vất vả và khó khăn nào có nghĩa gì đối với Hạnh. Công việc dần dần ổn định. Hạnh thấy lòng mình trong sáng. Nhiềâu người Việt đến đây ăn uống, Hạnh có dịp sống với hồn quê hương của mình trong những câu chuyện với khách. Ước mơ về Việt Nam ngày càng hiện rõ trong tâm hồn Hạnh.

*

Hạnh rót cho tôi một ly rượu nữa. Rượu Tây rất êm và thơm. Câu chuyện của hai thầy trò trở nên tự nhiên và ấm hơn .

– Em có lập gia đình lại chưa?

– Sao thầy lại hỏi em câu ấy?

– Em còn rất trẻ, tươi sáng và đằm thắm hơn ngày xưa nhiều, lại là Việt kiều, khối người mơ ước.

Hạnh nhoẻn cười. Ánh mắt như có nước, khuôn mặt rạng rỡ.

– Em thấy có điều này thầy nói về em rất đúng. Thầy nhớ lại xem điều gì?

Tôi cười :

– Ngày xưa à? Thầy chỉ nói dối thôi.

Hạnh nhìn tôi thật tin cẩn:

– Điều này thì thầy nói thật và nói đúng. Em đã diễn xong vai tuồng cả hài kịch và bi kịch, nói như thầy là em đã tìm được chân lý.

Tôi không nhớ đã nói gì trong bao điều thầy trò đã tâm sự:

– Chuyện ngày xưa! Cổ tích mà.

Hạnh như chìm vào một cơn mơ:

– Thầy bảo em là người đào hoa nhưng cô độc. Điều ấy em nghiệm thấy rất đúng. Hiện giờ có nhiều người thương em thực lòng. Nhưng lòng em lại trống không vô cảm. Em sợ cái vòng luân hồi của kiếp trước lắm rồi.

Tôi muốn tránh đi cái không khí ảm đạm:

– Lại duy tâm rồi. Thầy tưởng em thực dụng chứ? Xây vi-la này, đi xe con này, mở mang kinh doanh này, xuất nhập cảnh như đi chợ này, Hạnh bây giờ là một bà đầm ngoại rồi, chưa đủ sao?

Hạnh lắc đầu nhè nhẹ:

– Đúng như thầy nói, em đang sống một kiếp người khác, nhưng em vẫn là con người Việt Nam ngày xưa.

Tôi làm bộ nghiêm túc:

-Chân lý.

Bùi Công Thuấn

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s