“Vision accomplished ?The enigma of Ho Chi Minh” – Nguyễn Khắc Huyên

Vision Accomplished

Vision Accomplished

Năm 1971 khi phát hành cuốn sách, nhà xuất bản Mac Millan, New York cho biết tác giả tốt nghiệp tiến sĩ đại học Minnesota và đang là trưởng khoa chính trị học trường cao đẳng Saint Catherine, thành phố Saint Paul, tiểu bang Minnesota. Đây có lẽ là tác phẩm đầu tiên về HCM bằng tiếng Anh do một người VN không CS viết, được tự điển Bách Khoa Americana trưng dẫn. Giáo sư Nguyễn Khắc Huyên chỉ sống dưới chế đô. CS bảy năm. Ông không tán thành chế độ nhưng thán phục HCM về tài lãnh đạo. Đó là lý do ông viết cuốn tiểu sử được coi là “cuốn tiểu sử chính trị có uy tín đầu tiên được viết bởi một người VN.”

Nhan đề đầy đủ của sách là Vision accomplished? The enigma of Ho Chi Minh – Mộng ước đã đạt? Bí ẩn về HCM. Sách dầy 380 trang khổ lớn gồm 9 chương: Nhà cách mạng trẻ – cán bô. CS quốc tế – kiến trúc sư cách mạng CS – chủ tịch nước cộng hòa non trẻ – nhà ngoại giao – Hồ chủ tịch chống Pháp – Hồ chủ tịch chống Mỹ – Đồng chí ở giữa Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa – Cái chết của nhà cách mạng.

Trong phần thư mục, tác giả nêu 50 tác giả được trích dẫn, trong số có cuốn sách của HCM và bô. HCM tuyển tập, 2 cuốn của Lê Duẩn, 3 cuốn của Trường Chính, 3 cuốn của Võ Nguyên Giáp, 1 cuốn của Phạm Văn Đồng, 2 cuốn của Trần Dân Tiên, 1 cuốn của Nguyễn Lương Bằng viết chung với Võ Nguyên Giáp, 1 cuốn của Lê Thành Khôi và 2 cuốn của Hoàng Văn Chí – tác giả duy nhất thuộc phía người Việt quốc giạ

Phía tác giả ngoại quốc cũng gồm phần lớn tác giả có xu hướng CS như Wilfred G. Burchett hoặc ủng hộ cuộc kháng chiến do CS lãnh đạo như Joseph Buttinger, Bernard Fall…và Jean Lacouture là tác giả gần như được trích dẫn bởi hết thẩy những người viết tiểu sử HCM.

Trong lời tựa, tác giả đã nêu rõ nhận định của mình: “Ông ta là người cương quyết có sẵn kế hoạch từ trước, một nhà cách mạng dân tộc hiến thân để bành trướng chủ nghĩa CS ở Đông Dương.” Tác giả cho rằng HCM “đã khéo léo lợi dụng sự thiếu kiên nhẫn của Tây phương và lòng yêu nước của dân tộc VN để thành công vẻ vang”. (1)
Bài mở đầu trích dẫn nhiều lời tâng bốc cùng tột của các tác giả vốn là thủ ha. HCM, nhưng tác giả vẫn phát biểu: “Ông ta cũng là bác Hồ già cai trị với nắm tay sắt, cũng là người vì
quốc gia mà tiêu diệt nửa triệu những đứa cháu cứng đầu trong cải cách ruộng đất”. (2)
Cuối cùng, tác giả trách nước Pháp đã giúp HCM bằng cách không đếm xỉa đến ước muốn độc lập của nhân dân VN.

Chương 1, tác giả thuật lại năm 1946 HCM không dám tiếp anh ruột, lấy cớ giữ bí mật, bà Thanh – chị ông Hồ – cũng chẳng bao giờ được gặp em khi đã là chủ tịch nước. (3) Tác giả còn thuật lại Nguyễn Tất Thành có lần từ Paris về Saigon tìm cha nhưng bị ông này đuổi đánh vì trái lời khuyên hãy theo đường lối của Phan Chu Trinh. Theo tác giả, hai cha con có hai đường lối khác nhau và “có lẽ đó là nguồn gốc việc ông Hồ từ bỏ gia đình.” (4)
Tác giả cũng ghi nhận HCM từng có vợ trong thời gian ở Hoa Nam nhưng không nêu rõ chi tiết mà chỉ ghi dẫn theo tác phẩm Không có hòa bình cho Á Châu của Harold Isaacs. (5)
Về cách hoạt động khi ở Hoa Nam, tác giả diễn ta? HCM đã áp dụng kỷ luật thép đối với các đảng viên, bất kỳ ai không trung thành đều bi. Hồ trao tên cho mật thám Pháp bắt. Theo tác giả, cách đó rất hữu hiệu. Rồi tác giả thuật lại chi tiết chuyện HCM bán cu. Phan Bội Châu lấy 150 ngàn đồng và nêu thêm 3 lý do mà sau này HCM đưa ra để bào chữa. Ba lý do đó là:
– Loại đối thủ
– Lấy tiền gây cơ sở
– Thúc đẩy sự căm hận người Pháp trong nhân dân.
Tác giả nêu sự việc này theo tài liệu của P. J. Honey (North VN Today – New York, Praeger, 1962, tr. 4) và Lao Trinh Nhất. (6)

Chương 2, tác giả viết như Bernard Fall từng khẳng định trong Ho Chi Minh on Revolution: “Với tư cách chuyên viên về các vấn đề thuộc địa, Hồ được phái đi Mạc Tư Khoa dự đại hội 4 Đệ
Tam Quốc Tế từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1922 và được gặp Lênin, Stalin, Trotsky, Bukharin”. (7) Theo tác giả, qua liên hệ của HCM với Đệ Tam Quốc Tế, đảng CSVN được tổ chức này trợ cấp hàng tháng số tiền khoảng 1,250 Mỹ Kim, nhưng phải chịu sự kiểm soát của đảng CS Pháp. Tác giả cũng cho rằng HCM chịu trách nhiệm về những thất bại trong các “Xô Viết” ở VN năm 1931 nên bị gọi về Nga học tập lại và lần này, học tại trường cách mạng Lênin. Tác giả theo tài liệu của các tác gia? CSVN nói HCM lập Mặt Trận Việt Minh tức VN Độc Lập Đồng Minh Hội tại Pác Bó năm 1941 (8) nhưng nhận định việc lập Mặt Trận Việt Minh không do sáng kiến của HCM mà do lệnh của Đệ Tam Quốc Tế chỉ thị các đảng CS phải đưa vào tổ chức của mình càng nhiều phần tử quốc gia, càng nhiều tổ chức xã hội càng tốt.
Tác giả cũng ghi nhận là thời gian ở Pac Bó, HCM đã chăm chỉ dịch lịch sử đảng CS Liên Xô, binh pháp Tôn Tử, trước tác về chiến lược chiến thuật du kích của Tàu và Pháp. Về cung cách
HCM hành sử, tác giả viết: “Nhằm theo đuổi các mục tiêu của mình người CS chai đá này không dừng lại bất cứ điều gì, đã tuần tự hợp tác hay đề nghị hợp tác với cả mật thám Pháp, cảnh sát Anh, Quốc Dân đảng Trung Hoa, rồi cơ quan tình báo Mỹ.” (9)
Tác giả nhận định sự kiện Anh Mỹ tiếp tế vũ khí tiền bạc cho Việt Minh chẳng đáng là bao nhưng rất có tác dụng tuyên truyền, vì nó chứng tỏ cho nhân dân trong nước thấy Việt Minh được sự ủng hộ của Đồng Minh – đây chính là điều một cán bô. CS cần phải có để kêu gọi nhân dân nghe theo. Nhìn rõ sự quan trọng của công tác tuyên truyền trong mọi hoạt động của CS, tác giả đã trích lời HCM nhân ngày thành lập đội vũ trang tuyên truyền giải phóng quân: “Đơn vị vũ trang tuyên truyền giải phóng” chứng tỏ bằng chính danh xưng của nó rằng cần phải đặt công tác chính trị bên trên công tác quân sự. Đây là đơn vị tuyên truyền…”

Hoạt động tuyên truyền mà HCM thể hiện không chỉ gói trong nỗ lực tạo cho mình những cái mình không có mà còn tích cực gán cho mọi đối thủ những cái thực sự đối thủ không có. Dẫn chứng cho cung cách này, tác giả trưng nguyên văn bức thư HCM viết cho trung úy John tố cáo (với Mỹ và Pháp) rằng đảng Đại Việt chủ trương khủng bố chống Pháp! Trong thư HCM cũng xin Hoa Kỳ thông báo cho phe Đồng Minh biết là “Chúng tôi đã đứng về phía Đồng Minh chống Nhật…” (10)
Tác giả phân tích về lá thư:”Chiến dịch khủng bố của Đại Việt chỉ có trong trí tưởng tượng của ông Hồ. Đã rõ con người xảo quyệt này cố làm cho người Pháp và hy vọng cả người Mỹ chống Đại Việt để dùng họ loại trừ những phần tử quốc gia đang tranh giành ảnh hưởng với Việt Minh. Đồng thời cũng đổ lên đầu các đối thủ của mình những cuộc tấn công mà Việt Minh
đang toan tính sẽ làm để chống Pháp”

Không chỉ vu cáo để đẩy đối thủ vào thế bị mọi phía thù nghịch mà còn trực tiếp hãm hại đối thủ bằng mọi cách là thủ đoạn của HCM. Tác giả cho biết “với sự chấp thuận của ông Hồ
(with Hốs approval…), Trần Văn Giầu đã ra lệnh thủ tiêu Tạ Thu Thâu sau khi đi kinh lý với HCM và từ Quảng Ngãi trở về Saigon. (11)
Hành sự hiểm ác và chủ trương độc tôn, loại trừ mọi phần tử khác chính kiến đã đặt HCM vào thế khó khăn do phản ứng từ phía các đoàn thể quốc gia và cả phía đồng minh khiến HCM
phải tuyên bố giải tán đảng CS ngày 11-11-1945. Tác giả cho biết đây cũng chỉ là một thủ đoạn của HCM và dẫn lời Trường Chinh xác nhận đảng này vẫn tiếp tục hoạt động bí mật. Dù vậy, HCM vẫn không dành được sự ủng hộ của Mỹ vì “sau thời gian đầu không rõ ràng, càng ngày Hoa Thịnh Đốn càng biết liên hệ của Hồ với CS nên đã chỉ thị cho người của họ ở Bắc Việt biết chính sách của chính phu? Hoa Kỳ là giữ lập trường trung lập và không chống việc Pháp trở lại Đông Dương.” (12)
Vào thời điểm đó, Liên Xô đang muốn kéo dài sự hòa hoãn với Pháp và lưu tâm nhiều hơn tới việc bành trướng ảnh hưởng tại Đông Âu nên HCM không thể nhận được sự yểm trợ tích cực
trên trường quốc tế.
Trong khung cảnh chung đó, đô đốc D’’Argenlieu, cao ủy Pháp tại Đông Dương khi tới Saigon ngày 31-10-1945 đã tỏ thái độ phủ nhận tính cách đại diện cho VN của HCM. Tác giả viết về D’’Argenlieu: “…Ông ta chỉ nghe mấy tay hành chánh và thực dân Pháp muốn nước Pháp chỉ thương lượng với Bảo Đại và nhóm quan lại trí thức”. Theo tác giả, D’’Argenlieu còn muốn đưa Bảo Long lên làm hoàng đế và để Nam Phương Hoàng Hậu nhiếp chính. Nhưng bà này không đồng ý. (13) Tác giả diễn tả mức khó khăn căng thẳng đã khiến có lúc HCM phải đến tận nơi cư ngụ của cố vấn Vĩnh Thụy (ngày 23-2-1946) xin cựu hoàng thay ông ta làm chủ tịch điều khiển chính phủ, còn ông ta làm cố vấn cho cựu hoàng để làm dịu sự chống đối của đồng minh, Pháp và cả phe quốc gia vì họ thấy ông ta quá đỏ.
Tuy vẫn nói HCM là người của Đệ Tam Quốc Tế và là con người thủ đoạn, nhưng tác giả tiếp tục khẳng định “cần nhấn mạnh một lần nữa rằng ông Hồ không chỉ là một người Mác-xít
dấn thân mà còn là một người yêu nước nồng nàn – an ardent nationalist.” (14)
Lời khẳng định trên cũng lý giải sự ngưỡng mộ mà tác giả dành cho HCM qua mô tả về những tính cách của nhân vật này. Tác giả gọi HCM là người khách quyến rũ – The charming visitor (15), dùng làm tiêu đề một đoạn sách nói về hội nghi. Fontainebleau và nhắc tới một sự việc hoàn toàn bất thường trong trường hợp ký kết thỏa ước Modus Vivendi: “Sau một ngày suy nghĩ và tính toán, Hồ quyết định ký. Sợ Moutet hoặc chính ông ta sẽ đổi ý, nhà cách mạng lão thành bất chấp nghi lễ, đi thẳng tới phòng ngủ của vị bộ trưởng đòi ký ngay cho bằng được bản thỏa ước.” (16)
Bản thỏa ước là một thất bại vì chỉ nhắm vớt vát thể diện cho HCM khỏi phải tay không về nước, nhưng một chiến dịch tuyên truyền rầm rộ đã được phát động ở trong nước để khi HCM
về tới bến cảng Hải Phòng thì “những tiếng hoan hô “Hồ chủ tịch muôn năm” vang dội như sấm giữa đám quần chúng đón tiếp làm ông gần mất thăng bằng”. (17) Tác giả nhìn nhận một lần
nữa, tuyên truyền đã biến một thất bại thành chiến thắng.

Mở đầu chương 6, tác giả viết: “Chiến tranh bùng nổ có tác dụng tức khắc là quy tụ người Việt xung quanh HCM. Nhiều người trước kia từng cáo buộc ông bán đứng tổ quốc cho Pháp, nay xem ra sẵn sàng chấp nhận luận cứ của ông rằng ký kết thỏa ước với Pháp (tại Paris) chỉ là một trong những cố gắng tuyệt vọng của ông để tránh chiến tranh… Pháp từ chối thừa nhận khát vọng độc lập của người Việt khiến cho người quốc gia không thể tách rời CS trong một cuộc chiến trong đó những nhu cầu cấp bách của chủ nghĩa dân tộc là quan trọng hơn cả.” (18) Nếu bỏ qua việc cứu xét nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến và bỏ qua chủ trương loại trừ người quốc gia để giữ độc quyền lãnh đạo của HCM thì nhận định trên có vẻ hợp lý phần nào. Nhưng chính tác giả đã nêu rõ thái độ lúc đó của chính giới Pháp: “Trừ đảng CS, tất cả đảng phái Pháp đều chống việc thương thuyết với chính quyền Việt Minh vì cớ Việt Minh bị chi phối nặng nề bởi những phần tư? CS cực đoan, và do đó không có tư cách gì nhân danh nhân dân VN.” (19)
Ngày 1-4-1947, Cao Ủy Bollaert tới Saigon để thực hiện chính sách mới, “một giai đoạn xây dựng”, bãi bỏ kiểm duyệt báo chí ở Saigon và phong tỏa Hải Phòng, Hà Nội đồng thời tuyên bố “Nước Pháp không thể thương thuyết với Việt Minh, vì nó bị chi phối bởi CS là bộ phận nhỏ của phong trào yêu nước”. (20)
HCM cố xoa dịu Pháp đồng thời để ngăn chặn tình trạng”quần chúng quy tụ sau lưng những nhóm ủng hô. Bảo Đại, lúc ấy xem ra thành công hơn trong việc làm cho Pháp nhượng bộ”, đã tuyên bố cải tổ chính phủ ngày 19-7-1947. Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… từng tỏ ra quá cứng rắn trong các hội nghi. Fontainebleau và Đà Lạt được thay bằng Tạ Quang Bửu, Phan Kế Toại… HCM cố tỏ ra chính phủ do mình lãnh đạo không phải hoàn toàn CS.
Nhưng người Pháp vẫn không chịu thương lượng bởi lẽ không thể che lấp được tính chất giả dối của thủ đoạn này vì chính phủ vẫn hoàn toàn do CS điều khiển. (21) Cải tổ không thành công, HCM tiếp tục con đường quen cũ: “Để ngăn ngừa một chính phủ chống cộng thành lập, Hồ dùng tới chiến lược cố hữu của ông ta: thủ tiêu đối thủ. Cuối tháng 10, bác sĩ Trương
Đình Tri và Nguyễn Văn Sâm bị thủ ha. Hồ ám sát. Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bị xử tử khiếm diện”. (22)
Trong khi đó, HCM tiếp tục cố tranh thủ sự ủng hộ quốc tế:

“Ngày 22-11-1947, từ rừng sâu chính phu? Việt Minh nộp đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc, hứa tôn trọng hiến chương LHQ và làm tròn nghĩa vụ của một hội viên. Nhưng đơn không có hồi âm”. (23)

Dù vậy, các nỗ lực cũng đem lại kết quả là hoàng thân Bửu Hội, nhà bác hội duy nhất của VN lúc ấy, nhân danh hoàng tộc khuyên Pháp nên điều đình với chính phu? HCM và hoàng thân Ưng Úy, thân sinh của nhà bác học Bửu Hội, ra vùng kháng chiến với Việt Minh.
Tháng 1-1949, khi Trung Cộng chiếm được Bắc Kinh, Pháp bắt đầu lo ngại khó thể chiến thắng vì Việt Minh chắc chắn được Trung Cộng yểm trợ nên sắp xếp nhượng bô. Bảo Đại để ngăn cản dân chúng VN theo Việt Minh. Cả Pháp, Bảo Đại lẫn Hoa Kỳ đều cố đi tới một hành động chung nhằm mục đích đó và Hiệp ước Élysée giữa tổng tống Vincent Auriol và quốc trưởng Bảo Đại được ký kết ngày 8-3-1949. (24)
Cuối tháng 6-1949, chính phu? Nam Kỳ quốc đệ đơn từ chức và VN thống nhất… “Ngô Đình Diệm được mời cầm đầu chính phủ lại từ chối và nhắc lại rằng ông chỉ tham chính sau khi nguyện vọng của quốc dân được thỏa mãn, hoặc VN được hưởng quy chế giống như Ấn Độ và Hồi Quốc trong Liên Hiệp Anh (Khối Thịnh Vượng Chung). Ông Diệm còn nhấn mạnh, là địa vị tốt nhất phải dành cho những người xứng đáng nhất của xứ sở, những thành viên của kháng chiến” (25)
Ngày 13-1-1951, Việt Minh đưa 2 sư đoàn 318 và 312 tấn công đồn Vĩnh Yên. Thua với 6,000 chết 600 bị bắt. Ngày 23-3-1951 lại tấn công Mạo Khê, cũng thua 400 chết gần 3000 bị thương. Ngày 29-5-1951, 3 sư đoàn 304, 308, 320 đánh một loạt trận dọc sông Đáy. Lại thua. Thương vong tổng cộng một phần ba quân số. Kể cả 1000 bị bắt sống. Tác giả cho biết người chịu trách nhiệm điều khiển các trận thí quân theo chiến thuật biển người này không phải Võ Nguyên Giáp mà là tổng bô. Việt Minh do HCM đứng đầu. (26)
Riêng số thương vong đôi bên tại trận Điện Biên Phủ, theo tác giả ghi, phe thắng 23,000 thương vong trong đó 8000 bị chết còn bên thua 7184 chết, 11,000 bị thương và bị bắt (27) .
Về hòa đàm Genève, tác giả cho biết chính Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn Việt Minh nêu ý kiến trao đổi lãnh thổ, tức chia cắt VN làm hai: “Trong cuộc mật đàm giữa phái đoàn Việt Minh và
Pháp, Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Quốc Phòng VN Dân Chủ Cộng Hòa được tướng Pháp Delteil yêu cầu nói rõ mấy lời tuyên bố của Phạm Văn Đồng ngày 25 tháng 5, cụ thể là thuật ngữ “trao đổi lãnh thổ”. Bửu giải thích, điều đó ngụ ý sự chia cắt tạm thời VN và sẽ tổng tuyển cử thống nhất sau.” (28)
Trong chương về liên hệ giữa HCM với Mỹ, tác giả dẫn nguyên văn lời tuyên bố của Võ Nguyên Giáp, Bộ Trưởng Nội Vụ đọc ngày 2-9-1945 trước khi trích lời tuyên bố của chính HCM nhân dịp kỷ niệm “quốc khánh” 9 năm sau vào 2-9-1954. Năm 1945, Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Hoa Kỳ không có tham vọng lãnh thổ nơi đất nước này. Họ đã cống hiến to lớn nhất cho cuộc đấu tranh của nhân dân VN chống kẻ thù phát xít Nhật. Và như vậy Hoa Kỳ vĩ đại là bạn tốt của chúng ta”. Và năm 1954, HCM tuyên bố:”Chúng ta phải đoàn kết muôn người như một để chống những kẻ phá hoại hòa bình là đế quốc Mỹ và tay sai.” (29)
Theo tác giả, sau khi Trung Cộng chiếm được Hoa lục, HCM đã bị áp lực của thủ hạ gỡ bỏ mặt nạ yêu nước (30), công khai tuyên bố đi theo Quốc Tế CS. “Đó là một bước tiến có ý nghĩa, vì mãi cho đến tháng 3 năm 1949 ông Hồ vẫn còn cực lực bác bỏ luận điệu của những ai tố cáo chính phủ ông là bi. CS thống trị, cho rằng đó hoàn toàn là chuyện bịa đặt của đế quốc Pháp.”
Có lẽ nhờ sự việc này ngày 18-1-1950 Trung Cộng công nhận VN Dân Chủ Cộng Hòa và 12 ngày sau, 30-1-1950, đến lượt Liên Xộ Từ đó HCM không còn dè dặt mà công khai đả kích nặng nề “phe” thế giới tự dọ
Tác giả cũng ghi nhận nhiều bước tiến của miền Nam thời Đệ Nhất Cộng Hòa, ca ngợi Ngô Đình Diệm đã cương quyết và thành công trong những năm đầu khiến Hoa Kỳ lúc trước vẫn nghĩ ông sẽ thất bại phải quay sang ủng hộ triệt để. Thành tựu của Ngô Đình Diệm khiến HCM lo lắng và riêng năm 1955 đã phái vào Nam khoảng 6000 cán bộ tập kết để tiến hành chiến tranh du kích. (31) Một kết quả của nỗ lực này được tác giả ghi lại bằng số người bi. CS ám sát ở nông thôn miền Nam như sau: “Người ta ước lượng có 1700 viên chức chính phủ (Miền Nam) bị giết trong năm 1959, và 4000 trong năm 1960.”

Ngày 10-9-1960, đảng ra nghị quyết thành lập mặt trận trong Nam và hơn ba tháng sau, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chính thức thành lập. Về sự việc này, tác giả viết: “Bất cứ giữ chức vụ gì trong mặt trận, những người không CS cũng chẳng có vai trò nào có ý nghĩa, mà hoàn toàn chỉ là công cụ của Hà Nội. Huấn thị của đảng Lao Động sau đây chứng minh điều đó: “Trong hiện tình miền Nam, trung ương ủng hộ việc đưa những phần tử này vào mặt trận, không phải vì đảng sẽ giao cho họ những trọng trách trong cuộc cách mạng giải phóng miền Nam, nhưng chỉ là dùng tài năng và uy tín của họ để xúc tiến cách mạng và làm cho mặt trận Nhân Dân thêm thanh thế hầu giải phóng miền Nam. Đường lối này chỉ là sách lược tạm thời của đảng. Khi cách mạng thành công, sách lược đó sẽ được xét lại. Lúc ấy đảng sẽ công khai lãnh đạo cách mạng tại miền Nam VN.” (32)
Tác giả viết tiếp và trưng dẫn thêm một tài liệu về âm mưu của Hà Nội nhắm khai thác sự nhẹ dạ của một số trí thức miền Nam: “Sự lệ thuộc của Mặt Trận vào Hà Nội còn được chứng minh hơn nữa bằng sự có mặt trong lòng nó của đảng Nhân Dân Cách Mạng được thành lập vào tháng 1-1962. Mặc dầu được mô tả như một đảng Mácxít-Lêninít độc lập, nhưng theo một
tài liệu bắt được của CS thì nó hoàn toàn chỉ là đảng Lao Động, thống nhất từ Bắc tới Nam, dưới sự lãnh đạo của ủy ban trung ương đảng mà lãnh tụ là HCM.
“Tài liệu đó giải thích lập trường của đảng Nhân Dân Cách Mạng như sau: “Nguyên văn: “Về việc thành lập đảng Nhân Dân Cách Mạng ở miền Nam, đó chỉ là một vấn đề chiến lược; trong đảng với nhau cần được giải thích; và nhằm đánh lừa kẻ thù, cần phải cho nó một bộ mặt bề ngoài như là đảng Lao Động chia rẽ làm hai nên nó mới ra đời; như vậy kẻ thù không thể dùng nó làm lợi khí tuyên truyền.
“Trong đảng, cần phải giải thích rằng, lập nên đảng Nhân Dân Cách Mạng này nhắm mục đích cô lập Mỹ với chế đô. Diệm, và để ngăn không cho chúng tố cáo miền Bắc chúng ta xâm lăng miền Nam. Đó là cách ủng hộ sự phá hoại hiệp định Genève của ta, tiến hành kế hoạch xâm chiếm miền Nam đồng thời cho phép Mặt Trận Giải Phóng tuyển thêm đảng viên và thu phục thiện cảm của các nước không liên kết ở Đông Nam Á.” (33)
Thái độ của HCM đối với những nỗ lực quốc tế muốn giải quyết cuộc chiến miền Nam bằng đường lối hòa bình cũng được ghi lại là thái độ quyết liệt chống phá. Nhân dịp khai diễn hội nghị các nước không liên kết, lãnh tu. Nam Tư Titô đưa sáng kiến vãn hồi hòa bình bằng cách hai bên tham chiến hòa đàm, “Hànội gọi lời kêu gọi là “hòa bình gian trá và đại bịp” do Titô là thứ bồ câu dụng cụ của đế quốc Mỹ sáng tạo ra.” (34) Riêng HCM bác bỏ kế hoạch 3 điểm của tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant, cho rằng “Liên Hiệp Quốc không có quyền can thiệp vào vấn đề VN bằng bất cứ phương cách nào.”

Chương 8 bàn về liên hệ với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa, tác giả cho rằng do được đào tạo và xu hướng riêng, HCM “có một điểm ấm áp trong tim dành cho Liên Xô, là đất của Lênin, thần tượng của Hồ” nhưng đã khôn khéo đi dây giữa hai đàn anh. Tác giả chia thời gian nghiêng về bên này hay bên kia của HCM thành 4 giai đoạn:
– 1949 đến 1956: Ảnh hưởng của Trung Cộng
– 1957 đến giữa1962: Ảnh hưởng của Liên Xô
– Giữa 1962 đến 1964: Ảnh hưởng của Trung Cộng
– 1964 đến 1969: Ảnh hưởng của Liên Xộ
Tác giả phân tập đoàn lãnh tu. CSVN thành hai nhóm.

Nhóm thân Liên Xô gồm HCM (tuy nhiên về bề ngoài, HCM luôn cố giữ thế đứng giữa), Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, Lê Duẩn.
Nhóm thân Trung Cộng đứng đầu là Trường Chinh, rồi Nguyễn Duy Trinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan (tác giả gọi Hoan là chuyên viên thượng thặng về bang giao quốc tế).
Giữa hai xu hướng này, theo tác giả, HCM cố đứng trung lập với xu hướng hơi nghiêng về Liên Xô – a slightly pro-Soviet, “neutral”.
Tác giả đưa nhiều sự kiện lịch sử để chứng minh việc cố giữ thăng bằng thật khó, nhưng nhờ uy tín và tài tháo vát, HCM đã thành công phần nào. Cụ thể là trường hợp đi dự lễ kỷ niệm 40 năm Cách Mạng Tháng Mười của Nga (1957), HCM đã trì hoãn 2 tháng mới trở về để đe dọa hai phe tranh chấp trong nội bộ ban lãnh đạo đảng trong nước là nếu không ngưng tranh chấp, ông ta sẽ ở ngoại quốc vô thời hạn. (35) Mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Cộng có lúc căng thẳng, đến đô. Trung Cộng tố cáo Liên Xô đồng lõa với đế quốc Mỹ đã đe dọa phân rẽ ngay trong nội bô. Cộng đảng VN, nhưng cũng lại là cơ hội để HCM khai thác (36)
Đầu phần tổng kết, tác giả tóm tắt nhận định về HCM như sau: “Rõ ràng HCM là một trong những người CS dấn thân xảo quyệt và tàn bạo nhất trên thế giới từ trước đến nay. Đồng thời
ông ta cũng là nhà ái quốc lớn, mà sự dấn thân cho CS không làm lu mờ lòng thiết tha yêu tổ quốc.” (37)
Nhận định này được đưa ra sau khi đã nghiên cứu khá kỹ về cuộc đời HCM vẫn có vẻ thiếu am tường về chủ trương căn bản và chiến lược, sách lược của CS thế giới, đồng thời cũng
thiếu hẳn sự đối chiếu với thực tế về những gì mà HCM từng gây ra cho nhân dân VN sau khi toàn thắng. Một người tàn bạo nhất trên thế giới từ trước tới nay không nề hy sinh mạng
sống của nhân dân để đạt mục tiêu chính quyền và khi đã đạt được tất cả lại tiếp tục đày đọa nhân dân trong kiếp sống cực khổ còn hơn thời thực dân có thể là người yêu nước thiết tha không?
Hơn nữa, nơi trang 259, chính tác giả đã ghi nhận có tới 100 ngàn người bị giết trong cải cách ruộng đất gồm nhiều người từng anh dũng kháng chiến chống Pháp. “Theo luật kẻ bị án chết
có thể xin chủ tịch ân xá. Nhưng ông (Hồ) không hề động một ngón tay để ân xá cho bất cứ kẻ nào trong số các đứa cháu ngoan của “Bác”.
Nơi trang 260, tác giả còn trưng dẫn lời tuyên bố của Võ Nguyên Giáp về cải cách ruộng đất, một chính sách do chính HCM chủ trương với trọn vẹn tính tàn ác man rợ mà ngay một thủ hạ thân tín nhất cũng không giấu nổi cảm giác ghê rợn: “Chúng ta đã giết quá nhiều người lương thiện….và chỗ nào cũng thấy địch và dùng tới khủng bố tràn lan… Khi chỉnh đảng chúng ta quá chú trọng tới giai cấp xã hội thay vì chỉ căn cứ vào khả năng chính trị mà thôi. Thay vì lấy giáo dục làm chính, ta chỉ dùng tới những biện pháp tổ chức như phạt kỷ luật, khai trừ, xử tử, giải tán tổ chức chi nhánh đảng hay những chi bộ đảng. Tệ hơn nữa, tra tấn được coi như việc bình thường trong thời gian chỉnh đốn tổ chức đảng.”

Một người chỉ mang “mặt nạ yêu nước” như một thủ đoạn lường gạt xảo trá và thẳng tay tàn sát đồng bào để củng cố quyền lực cho bản thân mà được tôn xưng là nhà ái quốc lớn mà sự dấn thân cho CS không làm lu mờ lòng thiết tha yêu tổ quốc e rằng chỉ là cách tôn xưng mang đậm dấu ấn của những ảnh hưởng tuyên truyền đã được lập lại liên tục mấy chục năm quạ

Chú thích
Chương 12
(01)-(02)-(03)-(04) SD tr. XI, XV, 5, 8
(05) Harold Isaacs phóng viên báo Newsweek cho biết trong cuộc gặp gỡ với HCM tại nhà một giáo sư VN ở Hà Nội năm 1945, đã được nghe HCM tâm sự rằng từng có vợ. Isaacs ghi lại chuyện này nơi trang 164 của tác phẩm Không có hòa bình cho Á châu.
(06) Có thể ghi sai ĐÀO Trinh Nhất thành LAO Trinh Nhất chăng?
(07)-(09) SD tr. 22, 67
(08) Trên thực tế, HCM tham gia tổ chức VN Độc Lập Đồng Minh Hội của Hồ Học Lãm tại Hoa Nam từ 1940 để mượn danh hiệu này và việc lập Mặt Trận Việt Minh năm 1941 tại Pac Bó chỉ là bước đi cuối cùng sang đoạt danh hiệu trên mà thôi.
(10) Tài liệu trích từ Lost Revolution của Robert Shaplen, tr. 29-300
(11)-(12)-(13)-(14)-(15)-(17)-(18) SD tr. 93, 113, 117, 134, 144, 160, 176
(16) Bộ Trưởng Moutet thuộc đảng Xã Hội Pháp là người quen thân với HCM tại Paris từ những năm 1919-1920.
((19)-(20)-(21)-(22)-(23)-(24) SD tr. 181, 184, 190, 200, 208, 210
(25) SD tr. 212. Tác giả ghi theo báo Écho du VN, ngày 16-6-1949.
(26) SD tr. 219. Nguyên văn: “Giáp did not take decision alone; it was the Tong Bo, or more specifically, Ho Chi Minh, that was in charge of the war”.
(27)-(28)-(29)-(31) SD tr. 230, 236, 251, 256
(30) SD tr. 252. Tác giả nói gỡ bỏ “mặt nạ yêu nước” cho thấy chuyện yêu nước của HCM chỉ là giả dối và gần như đã bác bỏ một nhận định của chính mình rằng ông Hồ là người yêu nước nồng nàn – an ardent nationalist.
(32) SD tr.262-263. Trích tài liệu CS tịch thu được ghi trong Mối đe dọa hòa bình – phụ lục P, tr. 96-97
(33) SD tr. 264. Trích từ tài liệu của bộ ngoại giao Mỹ: Sự xâm lược của miền Bắc: Hồ sơ Chiến dịch xâm chiếm miền Nam của Bắc Việt, Washington DC, 1965 – phụ lục G, tr. 57
(34)-(35) SD tr. 266-267, 283
(36) SD tr. 303. Theo tạp chí Tam Cá Nguyệt Tàu tháng 7-9, 1966 tr. 217-218. Tác giả nói trong trường hợp này, HCM đã tỏ ra là “ngư ông đắc lợi”, nhờ biết lúc “nước đục thả câu”.
(37)) Xin xem chú thích 30 để so sánh. Tác giả mâu thuẫn trầm trọng khi ở trên viết đàn em làm áp lực bắt buộc ‘gỡ bỏ mặt nạ yêu nước’, rồi trang 252 lại viết ‘Ông Hồ là nhà ái quốc
lớn…thiết tha yêu nước!’

Advertisements

One comment

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s