Nhất Linh và cuộc đảo chính 11-11-1960: Theo tôi biết

zz-nhatlinh

Những chi tiết về cuộc đảo chính 11-11-1960 nhằm lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã được nhiều sách báo Việt Nam cũng như ngoại quốc tường thuật, trong bài này tôi chỉ tường thuật một chi tiết bên lề biến cố đó liên quan tới nhà văn Nhất Linh.
Buổi tối 12 tháng 11-1960, đột nhiên Nhất Linh trở về lại căn nhà số 58 Lý Thái Tổ, gần bùng binh trường trung học Petrus Ký. Trước đó, khoảng cuối năm 1959 hay đầu 1960, ông có ở cùng với mẹ ông, và tôi, ở căn nhà này trong mấy tháng. Tại sao ông lại tới ở với mẹ ông thì tôi không biết. Nhà chỉ có ba người. Căn nhà thật nhỏ, nằm ở đầu một con hẻm dẫn vào khu xóm lao động ngoằn ngoèo. Đứng ngoài nhìn vào, con hẻm ở phía bên phải. Cái cửa nhà nằm về bên trái. Khi vừa bước vào nhà thì bên phải có ngay một cái phản gỗ mầu verni vàng, cũ, thấp, và hẹp, vừa một người nằm. Đây là chỗ ngủ của ông.

Bề ngang căn nhà chưa tới 4 mét. Phía trước bị chắn bởi một cây cổ thụ nên căn nhà ngắn hơn so với toàn dẫy. Năm 2006, có dịp trở về Sai Gon đi ngang căn nhà thấy căn nhà không thay đổi. Chính vì thế căn nhà trở nên khiêm tốn hơn xưa bởi vì xung quanh, toàn con đường đã phát triển khang trang, hoành tráng và xầm uất hơn trước. Căn nhà này bà Nhất Linh mua từ thời di cư 1954. Sau đó cho người cô ruột của tôi, là em ruột ông Nhất Linh thuê ở. Căn nhà quá nhỏ so với gia đình đông người của cô tôi cho nên Thế Uyên, con của cô, kể chuyện một đêm có tên trộm lẻn vào nhà từ khu vực bếp phía sau nhưng không thể lên nhà trên để ăn cắp được vì các con của cô tôi nằm ngủ la liệt không còn lối đi.
Căn nhà có hai phần: Trong cùng gồm có bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, và một khoảng sân lộ thiên nhỏ, có bể đựng nước. Đây là nơi rửa chén bát, giặt dũ. Phần nhà trên là khu ở dài chưa tới 15 mét, ngăn đôi bởi cái vách tường có ô vuông lớn, không cánh cửa để có thể nhìn thông từ trong ra ngoài. Phần trong vách ngăn đôi dài khoảng 6 mét, là khu vực của bà nội tôi, diện tích vừa đủ kê hai cái giường đơn đối diện nhau; mỗi cái sát một vách tường. Giường của bà nội tôi kê phía ngoài, tức sát vách ngăn đôi. Sát bức tường cạnh con hẻm, là bàn học của tôi. Bàn học này chắn giữa khoảng đường nhỏ thông từ nhà trên xuống. Sát bức tường trong, sau lưng chỗ ngồi của tôi, ở giữa hai cái giường, là cái tủ lớn đựng quần áo và mọi thứ của bà tôi. Khoảng không gian còn lại, giữa hai cái giường, trước cái tủ gương, rộng hơn một chiếc chiếu, chính là chỗ ông Nhất Linh đã ngồi nói chuyện với gia đình vào tối 12-11, sau khi biết là cuộc đảo chánh đã thất bại.
Phần ngoài vách ngăn đôi có hai cái phản gỗ. Một cái nhỏ, kê sát phía ngoài là nơi ông Nhất Linh nằm tôi đã nói rồi. Cái phản gỗ thứ nhì, to và cao hơn, rộng đủ hai người nằm, được kê ở phía trong, sát bức vách ngăn đôi. Cái phản gỗ này được bà nội tôi nhờ đóng cao để có chỗ trong lòng phản làm một cái thùng chứa chăn màn quần áo với cánh cửa thùng là một thành giường, mở lên xuống theo chiều dọc. Những ai nằm ở phần nhà ngoài khi ngủ dậy phải gấp chăn màn, cất vào trong lòng cái giường này. Ông Nhất Linh cũng tự làm như vậy mỗi ngày. Ngoài ra, vì ngoài bà tôi, không ai có tủ đựng quần áo, nên trong cái “thùng” này, ông Nhất Linh cũng để vài bộ quần áo và khoảng hơn chục quyển tiểu thuyết ông đang đọc. Tôi ngạc nhiên là chỉ toàn tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp lúc đó gọi là series noire (?). Tư trang cá nhân quan trọng nhất của ông là cái cặp da, nâu sậm kiểu phồng to ở đáy, có đủ chỗ để nhiều đồ, được ông đựng sách và mấy bộ đồ cùng vài vật dụng cá nhân. Để thuận tiện, cái cặp này ông để ngay cạnh chỗ ghế vải ông ngồi, ở đầu giường ngủ của ông.
Giữa hai cái phản gỗ là một khoảng trống rộng nhất nhà. Nơi đây kê cái bàn gỗ tạp với bốn cái ghế dựa đánh verni vàng. Bộ bàn ghế thông dụng trong mọi gia đình bình thường. Chính ở cái khoảng rộng nhất trong nhà này, một đôi lần bà Nhất Linh tới thăm ông và ngủ lại, là hai ông bà dẹp bộ bàn ghế, trải chiếu xuống đất, mắc màn nằm chung. Thường ngày bà Nhất Linh buôn bán ở căn nhà chính của bà ở ngay chợ An Đông cách đó không xa. Điều buồn cười là khi thấy hai ông bà Nhất Linh ngủ chung dưới đất thì bà nội tôi tỏ ý không bằng lòng. Sự không bằng lòng của bà tôi cũng nhẹ nhàng, không lộ rõ nên tôi không nhận thấy, chỉ có cô ruột tôi là hiểu ý mẹ mình. Cô tôi cũng buồn cười về thái độ của cụ. Có thể là xuất phát từ tình mẹ con, cụ ghen với tình vợ chồng của con trai? Hay có thể là cụ bực mình khi thấy con trai cụ phải nằm đất? Tôi không rõ, nhưng chuyện đó cũng khiến tôi cười thầm là mặc dù ông Nhất Linh viết văn thúc đẩy cải cách gia đình từ ba mươi năm trước đó, nhưng trong chính gia đình ông thì mẹ ông dường như vẫn đầy quyền uy.
Bộ bàn ghế mộc đơn sơ đó dùng để ăn cơm và tiếp khách. Nhưng nhà ít có khách. Người nhà, con cháu tới thăm bà nội tôi thì cùng nhau xúm xít ngồi quanh giường bà nói chuyện. Trong suốt mấy tháng ông Nhất Linh ở đây tôi chỉ một lần thấy khách tới thăm ông, đó là hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí người nhỏ bé, đi chiếc lambretta. Thực ra từ sáng tới chiều tôi đi học nên nếu có khách lại thăm ông trong ngày tôi cũng không biết. Ban đêm, khi đi ngủ thì ông đã ở trong mùng, và đèn tắt nên tôi không ra khu vực nhà ngoài làm gì. Ban ngày tôi không thấy ông nằm ngủ hay nghỉ trên cái phản gỗ, vì thế tôi chưa bao giờ để ý tới dáng nằm của ông. Dạo đó tự nhiên tôi học rất hăng, buổi sáng tôi để đồng hồ báo thức lúc 5 giờ. Được hai hôm, bà nội tôi nhắc, “Chú Tam bảo cháu đừng để đồng hồ báo thức sáng sớm.” Ban ngày, ông luôn luôn ngồi ở cái ghế vải của ông, chăm chú đọc hay viết, hút thuốc lá và uống bia. Đặc biệt là chưa bao giờ tôi thấy ông có những phút ngưng nghỉ, cho mình ở không, ngồi nhàn tản. Cũng chẳng bao giờ ông lưu tâm, hay đứng bên cửa sổ quan sát nhóm người ngồi tán gẫu hay tranh cãi trong lúc đánh cờ tướng ở cái quán hớt tóc nằm trên con hẻm, sát bên hông nhà. Quán hớt tóc đó hàng ngày dựa vào bên ngoài bức tường nhà tôi để móc tấm bạt che mưa nắng. Chiều tối ông chủ quán tháo bạt về nhà. Giữa cái không khí ồn ào của quán hớt tóc bình dân và không gian tĩnh lặng, suy tư và viết lách của ông Nhất Linh, chỉ cách nhau một bức tường. Nhưng ông không bị chi phối. Không bao giờ ông để ý tới họ. Mỗi khi ra đường, tôi nhìn theo thấy dáng ông cao, hơi siêu siêu, có lẽ vì đôi giầy vẹt gót của ông. Ông luôn nhìn thẳng khi bước đi.
Nhà chỉ có ba người, ông Nhất Linh, bà nội tôi và tôi, nên luôn yên tĩnh. Thỉnh thoảng tôi mới thấy ông và bà nội tôi trao đổi mấy câu ngắn. Giọng ông nhỏ nhẹ, ấm áp. Ông gọi bà tôi một cách rất nhẹ nhàng là “Mẹ!” chứ không gọi là “cụ” như đa số người bằng tuổi ông, khiến lúc đó, trước mặt mẹ ông, tôi thấy ông vẫn như là cậu thiếu niên nhỏ bé.
Trong cái cặp da dầy đựng tư trang, còn có một cuốn bản thảo của ông. Năm đó tôi học đệ ngũ trường trung học Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định. Ở trường có làm bích báo. Một hôm ông đi vắng, tôi mở trộm cái cặp da, lấy cuốn bản thảo của ông định chép trộm một bài thơ mang tới trường. Nhưng chữ ông nhỏ như con kiến. Đọc không được nên tôi gấp cuốn bản thảo để lại chỗ cũ. Sau này lớn lên, nghĩ lại tôi vừa buồn cười với mình vừa thấy hết hồn. Nếu chữ ông dễ đọc thì có thể đã có một bài thơ được đăng bích báo dưới tên Nguyễn Tường Tâm, lớp 8, mà sau này lại xuất hiện ở một nơi khác, trịnh trọng hơn, dưới tên Nhất Linh.
Hàng ngày có một bà lớn tuổi tới nấu ăn và giặt áo quần rồi về. Nhưng ông Nhất Linh không ăn cơm chung với bà cháu tôi bữa nào. Tôi có dịp ở cùng ông Nhất Linh ba lần, mỗi lần khá dài ngày, nhưng hình như dịp ăn cơm chung với ông rất ít. Có lẽ chủ yếu là vì bị đau bao tử kinh niên nên ông thường tự làm lấy mì gói ăn thay cơm, do đó ông ăn theo giờ giấc của ông. Ông hút thuốc basto xanh liên miên. Thuốc và diêm hộp thì hàng ngày ông sai tôi ra cái quán gần tiệm phở Hợp Lợi mua. Một hôm tôi thấy một hộp diêm giá $2 đồng, trong khi mua nguyên gói ở chợ An Đông có $14 đồng. Tôi bèn nói bà tôi cho tôi “mượn” tiền để mua nguyên gói về “bán” lại cho ông. Bán hết 10 hộp diêm tôi được lời $6 đồng. Tôi cứ để gói diêm hộp trên bàn học, khi nào cần ông Nhất Linh tự lấy và để hai đồng trên bàn cho tôi. Có lẽ do việc “buôn diêm” này của tôi mà ông Nhất Linh biết rằng tôi chẳng bao giờ có đồng nào ngoài tiền ăn sáng, đi xe buýt, tiền sách vở, học hành. Tóm lại bà nội tôi đùm bọc tôi “đầy đủ” theo nghĩa của cụ, có lẽ cũng của hầu hết những gia đình Việt Nam nghèo thời bấy giờ, nghĩa là lo cho con cái ăn và học chứ không để ý tới nhu cầu giải trí. Thấy vậy một hôm ông Nhất Linh nói với mẹ ông trước mặt tôi, “Thằng Tâm nó lớn rồi, mẹ phải cho nó tiền tiêu hàng tháng để nó đi chơì chứ!” Và từ đó mỗi tháng ông cho tôi hai trăm đồng. Lúc đó một vé xem phim ở rạp Lê Lợi, rạp phổ thông của học trò, có bẩy đồng. Tô phở Hợp Lợi ngon nổi tiếng ở đầu đường nhà tôi có mười đồng. Một người ở nhà trọ ăn cơm tháng hết có 800 đồng. Hai trăm để tiêu vặt đối với tôi là quá lớn. Điều này khiến tôi cảm động. Tôi không ngờ một người đàn ông như ông, luôn phải lo toan đại sự văn học và cách mạng của đất nước mà còn đủ đầu óc quan tâm tới một thằng cháu gọi bằng chú, mà lại quan tâm một việc nhiều bậc bố mẹ khác có khi cho là không quan trọng, không đáng quan tâm: việc giải trí. Ông lại rất cẩn thận, khi rời bà cháu tôi mấy tháng sau đó, ông đã bảo vợ ông tiếp tục đưa cho tôi số tiền đó hàng tháng mặc dù sau đó, cho tới ngày ông tự vẫn, tôi không có dịp gặp lại ông nữa. Mấy tháng sau, bà Nhất Linh bảo anh Nguyễn Tường Triệu, người con thứ của ông bà, hiện ở Montreal, Canada, thay bà trao số tiền đó cho tôi. Cho tới mãi bây giờ, tôi vẫn tự hỏi, tại sao bà Nhất Linh lại nghe lời ông như vậy. Việc hàng tháng cho tiền đứa cháu mồ côi của chồng mình không phải là một nghĩa vụ người vợ phải nghe lời chồng, nhất là người chồng đó lại không phải là cột trụ tài chánh gia đình như ông Nhất Linh. Đây không phải là lần đầu tiên bà Nhất Linh nghe lời ông lo cho tôi. Trước đó vào năm 1956, khi tôi còn học lớp nhì, bà Nhất Linh đã nghe lời ông để tôi lên Đà Lạt sống với ông và mấy người con của ông. Thực ra, quan hệ chú cháu giữa tôi và ông Nhất Linh rất bình thường, chỉ như mọi người cháu khác mà thôi. Ông có mấy quan hệ chú cháu hay bác cháu thân thiết hơn rất nhiều như với hai anh Nguyễn Tường Hùng, Nguyễn Kim Tuấn (nhà văn Duy Lam, cháu gọi ông bằng cậu ruột), và Nguyễn Tường Bá. Hoặc mối quan hệ bác cháu rất nồng ấm của ông với cô Trương Kim Anh con gái ông bà Trương Bảo Sơn bạn thân của ông. Tôi không nằm trong số cháu đặc biệt của ông. Ông chỉ lo cho tôi theo yêu cầu của mẹ ông. Điều này khiến tôi thêm kính trọng ông, vì chứng tỏ ông rất có hiếu với bà nội tôi. Dĩ nhiên, nuôi một đứa cháu như vậy, cho nó ăn học, không bắt nó phải làm gì cả, cũng tốn kém khá nhiều, cộng với phương diện tình cảm, không nhiều bà thím khác làm được. Phải yêu thương và kính trọng ông gần như tuyệt đối thì vợ ông mới vâng lời ông như vậy.

 

BinhHoa

Tranh Nhất Linh

Một hôm, người anh em họ xa của tôi bảo tôi xin ông Nhất Linh cuốn Bướm Trắng. Tôi ngạc nhiên thấy ông bảo tôi đừng đọc cuốn đó. Thay vì vậy ông viết cho tôi mấy chữ vào miếng giấy nhỏ bằng bàn tay gửi ông giám đốc nhà phát hành sách báo Nam Cường ở gần rạp Đại Nam cho tôi hai cuốn Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Tôi không hiểu lý do ông bảo tôi đừng đọc cuốn Bướm Trắng. Sau đó tôi tự tìm cuốn Bướm Trắng đọc thì chẳng thấy gì ghê gớm đối với một học sinh lớp đệ Ngũ (lớp 8). Tôi nghĩ là thế hệ ông đã không còn hiểu được giới trẻ. Nhận được mẩu giấy, ông giám đốc nhà sách Nam Cường đưa tôi hai bộ, chứ không phải hai cuốn, Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Tôi tưởng sách lấy không mất tiền nên cầm luôn hai bộ. Ai mà chẳng có lúc hơi tham một tí! Về nhà bà nội tôi giải thích lấy như thế là phí mà “nhà sách họ trừ tiền của chú đấy.” *
Một buổi chiều đột nhiên ông giơ hai cánh tay lần theo bức tường, mặt ông dại đi, đôi mắt mở to, đục xanh ngơ ngác, ông hỏi thẩn thờ, nho nhỏ, “Cửa đâu? Cửa đâu?” Ông đang tìm lối đi ra mà ông lại sờ vào bức tường. Tôi ngạc nhiên nhìn ông, không hiểu. Bà tôi ngồi trên giường nhìn ông, cười nói nhẹ nhàng với tôi, “Chú điên!”. Nhưng bà không can thiệp mà chỉ tiếp tục nhìn ông và cười. Ông như không biết chung quanh có ai. Lần mấy bước tới cửa sổ, ông đưa tay ra vẫy người cảnh sát đứng gác ở tuốt ngã tư khá xa phía bên kia đường. Khoảng cách quá xa, người cảnh sát không thể nào trông thấy ông. Vẫy tay mấy cái xong ông móc ví, lấy hết tiền trong đó ra rồi vứt ví ra ngoài. Bà tôi lại cười, “Chú điên mà khôn, biết lấy tiền lại chứ không vứt cả tiền trong ví.” Xong bà tôi tiếp, “Chú giả vờ điên đấy!” Chỉ độ mười lăm phút sau ông trở về ghế vải cố hữu của ông. Tôi chạy ra ngoài lấy lại cái ví cho ông và thắc mắc ông giả điên như vậy để làm gì? Chuyện đó chỉ xảy ra ngắn ngủi như thế một lần. Tôi quên đi câu chuyện. Thời gian sau, ông rời bà nội tôi. Tôi không chứng kiến ngày ông rời bà nội tôi, và tôi cũng không nhớ thời gian và khung cảnh ông ra đi. Tôi không thắc mắc ông đi đâu. Ông có nhiều chỗ để đi.
Chợt sáng sớm ngày 11-11, khoảng 7 giờ, một chiếc máy bay nhỏ lượn vòng thấp trên bầu trời. Trên máy bay có loa phóng thanh, nhưng dưới đất không nghe rõ họ phát thanh cái gì. Mọi người trong xóm có vẻ ngạc nhiên. Lần đầu tiên có hiện tượng như vậy. Rồi máy bay thả ra từng loạt truyền đơn bay lượn trên không trung trong ánh sáng ban mai, lấp lánh như những cánh bướm tung tăng trong bầu trời đẹp. Đang tò mò ngước lên trời theo dõi, bỗng một tờ truyền đơn rơi gần. Tôi chạy theo nhặt lên xem. Đó là lời hiệu triệu dân chúng thông báo về cuộc đảo chánh chống chính phủ Ngô Đình Diệm. Nội dung tờ truyền đơn tôi không còn nhớ, nhưng tôi nhớ bên dưới tờ truyền đơn có khá nhiều tên các chính trị gia ủng hộ cuộc đảo chánh. Hồi đó tôi còn nhỏ nên đa số đó là các vị tôi chưa nghe nói tới, ngoại trừ cụ kỹ sư Phan Khắc Sửu là người đã ra tranh cử dân biểu ở khu vực của tôi. Tôi giật mình thấy tên ông Nhất Linh. Trong lòng tôi đột nhiên thấy phấn khích. Cái biến cố này trong phút chốc tự nhiên trở nên gần gũi đối với tôi. Trong nhà tôi lúc đó không có ai ngoài bà nội tôi. Khoảng 9 giờ sáng, nghe tiếng súng nổ ở Tổng Nha Cảnh Sát, gần nhà, tôi vội tới đó xem sự tình. Tổng Nha Cảnh Sát nằm trên đường Cộng Hòa, là phần nối dài của đường Lý Thái Tổ nơi tôi cư ngụ, cách nhau bởi cái bùng binh lớn. Đi bộ chưa tới 5 phút, vừa qua khỏi cổng trường trung học Petrus Ký ở bên kia đường, bên này đường là cư xá gia đình cảnh sát, là tới nơi. Chưa tới trụ sở Tổng Nha Cảnh Sát tôi đã phải dừng lại, vì đã vào vùng có thể có súng nổ. Bên kia đường, có chưa tới một tiểu đội lính bộ binh, mặc đồ trận mầu xanh olive, đứng dàn hàng ngang nhìn sang Trụ sở Tổng Nha Cảnh Sát. Đó là căn lầu hai tầng to nằm trong vòng rào cột xi-măng. Trong sân không thấy bóng người. Tôi cố nhìn lên mấy cái cửa sổ ở trên tầng hai chỉ thấy vài bóng người thấp thoáng di chuyển bên trong. Nghe nói bên trong là lính nhẩy dù đảo chánh, bên ngoài đường là lính chống đảo chánh. Hai bên trong ngoài không ai nổ súng. Mấy người lính bên ngoài chỉ đứng nhìn sang bên đối phương thôi chứ không ở tư thế tác chiến hay tấn công gì cả. Đột nhiên có một loạt súng từ bên trong bắn ra. Không nhiều. Mấy người lính bên kia đường chỉ giạt lui vài bước chứ không tìm chỗ ẩn núp. Súng nổ chỉ có một loạt. Nhưng một người lính bên kia đường ngã gục, hơi co quắp. Có lẽ trúng đạn vào bụng hay ngực. Tôi thấy cái chết đối với người lính đó vô lý quá. Hai tốp lính trong ngoài không tư thù gì với nhau. Họ chỉ là những quân nhân, hoặc tình nguyện, hoặc động viên, tới tuổi phải nhập ngũ theo lệnh gọi. Thế thôi. Họ không có tham vọng gì trong cuộc đảo chánh và chống đảo chánh. Nhưng họ chết. Khá tức tưởi! Họ hy sinh cho cái gì?
Sau loạt đạn ngắn và một người lính thiệt mạng, hai bên trong ngoài trụ sở Tổng Nha Giám Đốc Cảnh Sát án binh bất động. Chờ khoảng 15 phút, không thấy có thêm diễn tiến gì, tôi trở lại đầu đường đi dọc theo đường Hồng Thập Tự nhắm tới Dinh Độc Lập. Tới khu công viên rộng rãi có rừng cây cao trước cổng dinh, cạnh nhà thờ Đức Bà, tất cả đều vắng lặng. Không thấy lực lượng nào chiếm khu vực này. Có lẽ địa thế trống trải, dễ bị làm mục tiêu tấn công. Cũng chẳng thấy dân chúng. Không tụ tập. Chẳng biểu tình. Không hoan hô. Chẳng đả đảo. Tôi bèn tới bên hông Dinh, trước cửa trường trung học Pháp Chasseloup-Laubat (?), nay là trường Lê Quí Đôn. Nhiều dân chúng tụ tập nơi đây. Một số leo lên xe thiết giáp chơi với mấy anh quân nhân. Số khác đứng bên hàng rào trường nói chuyện với anh em quân nhân nhẩy dù đang đóng trong sân trường. Đây là lực lượng nhẩy dù làm đảo chánh. Những người lính đứng bên trong hàng rào trường rất hăng hái nói chuyện lật đổ Tổng thống Diệm. Các anh cho biết cuộc đảo chánh đã thành công rồi. Khi có người báo cho biết là có đoàn công-voa chở nhiều binh sĩ trên đường Lê Văn Duyệt tiến vào trung tâm Sai Gòn, các anh nói đó là lực lượng tăng cường đảo chánh đó. Nhưng sau này tôi biết đoàn xe đó chính là lực lượng chống đảo chánh, trở về cứu Tổng Thống Diệm. Sau mấy tiếng đồng hồ đứng theo dõi tại đó, tôi đi bộ ngược lại về nhà. Ngang vườn Tao Đàn, ngay giữa đường Hồng Thập Tự, tôi thấy mấy quân nhân nhẩy dù đang dựng một khẩu súng cối hướng về Dinh. Sau này, đọc sách báo, nghe nói là lúc đó lực lượng đảo chánh đã được Tổng Thống Diệm thoả mãn một số yêu cầu cải tổ chính phủ nên không nổ súng tấn công vào Dinh. Tới đường Lê Văn Duyệt, tôi vẫn còn được gặp đoàn quân xa từ miền Tây lên giải cứu Tổng Thống Diệm như vừa đề cập. *
Tối hôm sau, 12 tháng 11, đột ngột ông Nhất Linh trở về lại căn nhà bà nội tôi ở 58 Lý Thái Tổ. Lúc ông trở về tôi không có nhà. Lúc tôi về nhà thì thấy ông đang ngồi trên chiếc chiếu trải ở giữa phòng, cạnh giường bà nội tôi. Cạnh ông có mẹ ông và cô tôi. Dường như không có bà Nhất Linh. Chi tiết này tôi không nhớ chắc lắm. Tôi không nhớ còn có ai nữa. Nhưng nếu có thêm một người nào nữa thì chỉ có thể đó là một người em cô cậu ruột với ông, người chúng tôi vẫn gọi là chú Hùng, một người độc thân, suốt đời làm chính trị, sống lang bạt, đã từng tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hoàng Phố của Quốc Dân Đảng Trung Hoa, và từng lưu vong bên Tầu với ông Nhất Linh. Chú Hùng này cũng từng ngụ tại căn nhà này với bà nội tôi và tôi lúc không có ông Nhất Linh. Các con ông Nhất Linh cũng không hiện diện. Trong hàng cháu chỉ có mình tôi. Tôi ngồi trước mặt ông, trên chiếc chiếu, “hóng” chuyện. Câu chuyện trao đổi giữa mấy người lớn chậm rãi, nhỏ nhẹ, và thanh thản. Tôi không nhớ mấy người lớn nói những chuyện gì, nhưng chắc chắn không có vẻ quan trọng hay căng thẳng. Trông ông tươi tắn, vui vẻ hơn thời gian trước đó ông ở tại chính căn nhà này. Có lẽ lần trước ông còn có một kế hoạch chính trị bí mật để suy nghĩ (?). Bây giờ mọi chuyện đã ngã bài, đảo chính đã thất bại. Những lúc bình thường, không có gì để bận tâm, gương mặt ông tuy nghiêm nhưng vẫn dường như sắp cười. Đôi mắt ông xanh đục, nhưng long lanh toả sáng như hai hòn bi (chữ của Nguyễn Tường Thiết (?), con trai ông ), thu hút người đối diện. Ở cạnh ông, lúc bình thường, như lúc này, không ai cảm thấy lạc lõng. Nghe ông nói chuyện ai cũng thích thú bởi vì ông luôn để ý tới người xung quanh, tìm cách cho những người xung quanh được tham gia vào câu chuyện hay trò chơi chung. Trong lúc đang hào hứng “hóng” chuyện người lớn, đột nhiên tôi hỏi ông hai câu mà sau này tôi thấy mình “lãng nhách”. Đầu tiên tôi hỏi, “Đi làm cách mạng có bao giờ chú bị đói không?” Ông nhìn tôi vui vẻ cho biết, “Chưa! Chỉ có một lần trên đường về Việt Nam, bất ngờ anh em dừng quân ở khu vực giữa rừng, thay vì bình thường dừng quân nơi có dân chúng và quán xá, nên lần đó không có gì ăn.” Tuy nhiên ông cho biết tiếp, “Nhưng lần đó có một anh em đồng chí đưa cho chú một miếng súc cô la (chocolate).” Một lát sau tôi lại hỏi tiếp một câu mà sau này tôi thấy là quá lẩm cẩm, “Nếu cho chú làm Tổng Thống chú có thích không?” Ông khiến tôi ngạc nhiên khi nhìn tôi vui vẻ trả lời, “Không! Làm bộ trưởng thích hơn.” Tôi hỏi ông sao vậy thì ông giải thích, nửa đùa nửa thật, “Làm Tổng Thống không đi chơi được. Làm bộ trưởng đi chơi được.” Ông đã có kinh nghiệm làm Bộ Trưởng Ngoại Giao thời chính phủ Việt Nam đầu tiên do ông Hồ Chí Minh là Chủ Tịch. Sau này nhớ lại, tôi không hiểu tại sao vào giây phút sinh tử đó mà ông còn vui đùa như vậy và lại còn “tiếp chuyện” thằng cháu oắt tì, ngớ ngẩn như tôi. Buổi tối đó để lại cho tôi nhiều ấn tượng.
Hôm sau ông ra đi lúc nào tôi không rõ. Những tháng ngày kế tiếp, hai bà cháu tôi không đề cập gì tới ông. Chắc chắn một điều là mẹ ông không nhắc tới ông không phải vì không thương. Bà nội tôi rất thương ông. Nhưng cụ không âu lo, hay cụ quen nén nỗi âu lo trong lòng, bởi vì trong suốt mấy chục năm, từ khi các con cụ trưởng thành bước vào đời, cụ đã quá quen thuộc với những ra đi và trở về bất chợt của những người con trai của cụ. Bên ngoài, bà nội tôi luôn luôn có vẻ rất bình thản, nhưng ai biết được nội âu lo canh cánh trong lòng của người mẹ có những người con suốt đời sống trong giông bão ấy! *
Đó là lần cuối tôi được gặp ông. Sau này, ngẫm nghĩ lại cuộc đảo chánh, tôi mới ước đoán được lý do ông giả điên trước đó mấy tháng trong lúc ở cùng với bà nội tôi và tôi: Có lẽ trong lúc âm mưu đảo chánh, ông phải giả điên để đánh lừa cơ quan an ninh (?). Nhưng mối quan hệ của ông với những người chủ trương đảo chánh khởi đầu ra sao và từ lúc nào thì tôi vẫn hoàn toàn chưa được thấy tài liệu hay hồi ký nào đề cập tới một cách rõ ràng.

 

Nguyễn Tường Tâm

Advertisements

2 comments

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s