Tài Liệu Nghiên Cứu Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa



Vietnam Policy Research Institute
Viện Nghiên Cứu Chính Sách Quốc Gia

Tài Liệu Nghiên Cứu
Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa

Diễn đàn Dân Chủ: Phản ứng cục bộ của đảng CSVN đối với sự kiện Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa được thuyên chuyển ra hải ngoại là bạch hóa hiệp ước này 26 tháng sau khi được Quốc Hội CSVN thông qua vào ngày 9-6-2000. Sự kiện hiệp ước này được phổ biến tại hải ngoại vào ngày 30-8-2002 bộc lộ chiến lược thăm dò lý luận lên án của ‘thành phần phản động ở nước ngoài’ nhằm xây dựng cơ sở giả biện trước khi đảng CSVN công bố hiệp ước ở quốc nội cho trong mưu đồ triệt hạ những ý kiến phản đối trong nước. Dự đoán trước nỗ lực xây dựng cơ sở giả biện của đảng CSVN, Diễn đàn Dân Chủ xin phổ biến tài liệu nghiên cứu Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền sau đây của Vietnam Policy Research Institute để chứng minh những khía cạnh bất lợi của hiệp ước này dựa trên công pháp quốc tế và tài liệu lịch sử. Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền xác nhận dân tộc đã mất mát quá nhiều đất đai như vùng đất 750 cây số vuông của tổng Tụ Long cũng như mũi Bắc Luân ở Quảng Ðông cùng một nửa Thác Bản Giốc nổi tiếng vừa bị Hà Nội dâng nhượng cho Bắc Kinh. Song song, sự ký kết hiệp ước cũng bộc lộ (i) khả năng yếu kém của đảng CSVN trong lãnh vực đối ngoại, (ii) sự bất cẩn vô ý thức của đảng CSVN về việc bảo vệ quyền lợi quốc gia, và (iii) sự vô tình hay cố ý triều cống đất đai cho Trung quốc của đảng CSVN suốt tiến trình đàm phán và trong tương lai. Dân biểu Quốc Hội CSVN chắc chắn không biết các chi tiết phân định biên giới mờ ám trong Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền và bị dấu nhẹm về nguyên tắc công pháp quốc tế cũng như bị đe dọa nếu dám đặt vấn đề thất thiệt biên giới đối với đảng CSVN. Trong khi đó, mặc cảm nhà nước CSVN không đại diện toàn dân hiện nguyên hình dưới chữ ký của ‘Đại diện toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ bởi vì nếu thực sự là đại diện được dân tộc ủy nhiệm ‘toàn quyền nước’ thì không phải phô trương cái mặc cảm tâm lý bất ổn thiếu tự tin này.

Diễn đàn Dân Chủ
http://www.DanChu.net



Vietnam Policy Research Institute
Viện Nghiên Cứu Chính Sách Quốc Gia

Tài Liệu Nghiên Cứu
Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa
Cập nhật: 2-9-2002

Dẫn Nhập

Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa [HUBGDLVNTH] cho đến ngày 2-9-2002 vẫn tồn tại như một mật ước bởi vì chưa được chính thức công bố tại quốc nội sau 26 tháng từ khi được Quốc Hội CSVN thông qua vào ngày 9-6-2000. Sự kiện bạch hóa vào ngày 30-8-2002 trên hệ thống thông tin toàn cầu trong một quốc gia 80 triệu công dân nhưng chỉ có khoảng trên 100 ngàn trương mục truy nạp Internet không phải là việc công bố đúng theo nguyên tắc luật pháp quốc gia (luật pháp dẫu đã được Quốc Hội thông qua vẫn không có hiệu lực cho đến khi đăng tải đầy đủ để nhân dân tham khảo) mà chỉ biểu hiện phản ứng cục bộ của đảng CSVN trước sự chỉ trích của nhân dân về hành động mãi quốc cầu vinh của Bộ Chính Trị và sự kiện hiệp ước này được thuyên chuyển ra hải ngoại vài tháng trước đây. HUBGDLVNTH được bạch hóa vào ngày 30-8-2002 không có bản đồ biên giới đính kèm mặc dầu ‘Bộ bản đồ .. đính kèm Hiệp ước này là toàn bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước’ để nhân dân có thể khảo sát và bàn luận do đó (i) Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền vẫn chưa có hiệu lực pháp lý vì chưa được công bố đầy đủ cho nhân dân quốc nội tham khảo, (ii) sự kiện đảng CSVN ngăn cấm nhân dân tự do bàn thảo hiệp ước cũng như khảo sát biên giới quốc gia chứng minh vấn đề biên giới với Trung quốc đã không được giải quyết ‘một cách công bằng, hợp lý..’ như đảng CSVN giả biện.

Phân Tích

I) Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa thiếu minh bạch cho nên vô cùng bất lợi cho dân tộc Việt Nam.

Điều I. Hai Bên ký kết lấy các Công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc làm cơ sở, căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận cũng như các thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán về vấn đề biên giới Việt – Trung, đã giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước.

Công ước lịch sử về biên giới hiện nay’ không được định nghĩa trong HUBGDLVNTH cho nên không thể biết hai nhà nước CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa dựa vào công ước nào. Sự thiếu minh bạch này rất nguy hiểm cho nước nhược tiểu Việt Nam nếu sau này có sự bất đồng ý kiến và chứng minh (i) khả năng yếu kém của đảng CSVN trong lãnh vực đối ngoại, (ii) sự bất cẩn vô ý thức của đảng CSVN về việc bảo vệ quyền lợi quốc gia, (iii) sự vô tình hay cố ý nhân nhượng đất đai cho Trung quốc của đảng CSVN suốt tiến trình đàm phán và trong tương lai.

Một trong những lý do quan trọng mà nhược quốc như Việt Nam cần ký hiệp ước với cường quốc như Trung cộng là sự minh bạch để tạo nền tảng với tiêu chuẩn chính xác hầu thẩm định những tranh cãi trong tương lai bởi vì cường quốc có thể sử dụng sức mạnh để thủ tiêu quyền lợi của nhược quốc. Rất tiếc là Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền chứa đựng nhiều phần mờ ám thiếu minh bạch do đó nhược quốc Việt Nam dễ bị cường quốc Trung cộng lấn ép trong tương lai. Sự thiếu minh bạch này vô cùng bất lợi cho Việt Nam vốn là một nhược quốc trong khi lợi điểm của Trung quốc rất rõ ràng. ‘Công ước lịch sử về biên giới hiện nay’ có thể là bất cứ mật ước ‘lịch sử’ nào đó giữa Bắc Kinh và những ông hoàng Việt Nam yếu kém trong quá khứ như Mạc Ðăng Dung hay Lê Chiêu Thống hoặc cũng có thể là những tư liệu lịch sử như bia đá khắc ghi phán lệnh của vua Ung-Chính xác định sông Ðổ-Chú là đường biên giới giữa tỉnh Tuyên-Quang của Việt Nam và phủ Khai-Hóa của Trung quốc, và xa hơn nửa là trụ đồng đánh dấu biên giới Việt Nam – Trung quốc của Mã-Viện ở Phân-Mao-Lĩnh trong tỉnh Quảng-Ðông ngày nay, v.v. Nguyên tắc La Fontaine ‘lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng’ được Trung quốc thường xuyên sử dụng trong quan hệ quốc tế sẽ được tái áp dụng, đặc biệt là khi việc phân định một số giới điểm biên giới trong Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền rất mập mờ.

Có lẽ nhiều độc giả đoán ‘Công ước lịch sử về biên giới hiện nay’ trong HUBGDLVNTH là Convention relative à la délimitatiion de la frontière entre la Chine et le Tonkin ký ngày 26-6-1887Convention complémentaire à la Convention relative à la délimitation de la frontière entre le Tonkin et la Chine du 26 juin 1887 ký ngày 20-6-1895 [gọi chung là Công ước Pháp-Thanh 1887&1895] giữa Pháp giành quyền đại diện cho Việt Nam và nhà Thanh Trung quốc. Giả thuyết này có lẽ không sai nhưng trên bình diện pháp lý thì Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền thiếu minh bạch bởi vì bất cứ cá nhân nào cũng có thể viện dẫn hay phủ nhận Công ước Pháp-Thanh 1887&1895 là ‘Công ước lịch sử về biên giới hiện nay’ bởi vì cụm từ này không được minh xác rõ ràng như trong các công ước quốc tế điển hình như Hiệp Ðịnh giữa CHXHCN Việt Nam và Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ về Quan Hệ Thương Mại bao gồm nhiều phần định nghĩa như Ðiều 9 Chương 1, Ðiều 2 Chương 2, Ðiều 11 Chương 3, v.v. Chỉ cần xem định nghĩa “công dân” trong Chương 2: Quyền sở hữu trí tuệ của hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ở Ðiều 2(5), C.2 là có thể thấy tầm quan trọng của sự minh bạch cần thiết cho hiệp ước giữa các quốc gia [Ðiều 2(5), C.2: “công dân” của một Bên, tương ứng với từng loại quyền sở hữu trí tuệ, được hiểu là những thể nhân hoặc pháp nhân có thể đáp ứng những tiêu chuẩn để được hưởng sự bảo hộ quy định trong Công ước Paris, Công ước Berne, Công ước Geneva, Công ước về phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh, Công ước Quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, người ghi âm và tổ chức phát sóng, Công ước UPOV (1978, Công ước UPOV (1991), hoặc Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp được lập tại Washington năm 1989, như thể mỗi Bên đều là thành viên của các Công ước đó, và đối với các quyền sở hữu trí tuệ không phải là đối tượng của các Công ước nói trên thì khái niệm “công dân” của một Bên ít nhất được hiểu là bao gồm bất kỳ người nào là công dân của Bên đó hoặc người thường trú tại Bên đó {ngay cả danh từ ‘Bên’ cùng được xác định trước trong hiệp định này}].

Nhưng nếu ‘Công ước lịch sử về biên giới hiện nay’ trong HUBGDLVNTH thực sự là Công ước Pháp-Thanh 1887&1895 thì sự kiện đảng CSVN công nhận ảnh hưởng pháp lý của các công ước giữa Pháp và nhà Thanh đã chứng minh chủ trương mãi quốc cầu vinh của Bộ Chính Trị đảng CSVN bởi vì công pháp quốc tế cho phép Việt Nam xóa bỏ các công ước này để đòi lại những vùng đất đã bị Pháp dâng nhượng cho Thanh triều. Sự kiện này xác định (1) sự thiếu hiểu biết của đảng CSVN về lịch sử biên cương quốc gia, (2) khả năng yếu kém và sự bất cẩn của đảng CSVN trong việc bảo vệ quyền lợi quốc gia, (3) sự vô tình hay cố ý dâng nhượng đất đai cho Trung quốc của đảng CSVN suốt tiến trình đàm phán và trong tương lai.

Trung quốc đã đạt được quá nhiều thắng lợi qua Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền bởi vì Bắc Kinh có thể hợp pháp hóa những nhân nhượng của Pháp đối với nhà Thanh trong quá khứ vốn đã đem đến nhiều thiệt thòi về lãnh thổ của Việt Nam. Trong khi đàm phán, Pháp đã chấp thuận nhượng một phần lãnh thổ Việt Nam cho Trung quốc qua Công ước Pháp-Thanh 1887&1895: (a) 3/4 đất đai hay 750 cây số vuông của tổng Tụ Long ở Vân Nam vốn là đất của Việt nam, và (b) mũi Bắc Luân (Packlung) ở Quảng Ðông và ‘khu vực người Việt nằm trong lãnh thổ Trung Hoa.’ Sự kiện Pháp dâng đất đai Việt Nam cho Trung quốc khiến dân tộc mất một phần lãnh thổ rộng lớn cũng như lãnh hải vì phải nhượng thêm biển cả ‘Các đảo về phiá Ðông cuả đường kinh tuyến Paris 105o 43o của kinh tuyến đông, nghĩa là đường chạy theo hướng đông-bắc qua mũi phía đông đảo Trà cổ và lập thành đường ranh sẽ giao cho Trung Hoa…’ Như vậy theo giả định ‘Công ước lịch sử về biên giới hiện nay’ là Công ước Pháp-Thanh 1887&1895, Việt Nam đã mất cho Trung quốc 37% diện tích Vịnh Bắc Bộ cũng như 750 cây số vuông đất đai Vân Nam và mũi Bắc Luân ở Quảng Ðông. Và chỉ vì Hà Nội ký kết HUBGDLVNTH với đường biên giới mới mà Bắc Kinh có thể hợp pháp hóa chủ quyền trên các vùng đất đó mà theo nguyên tắc Bất Truyền (principle of nontransmissibility) của công pháp quốc tế, Trung quốc phải trả lại cho Việt Nam những vùng bị thực dân Pháp dâng nhượng cho Bắc Kinh theo Công ước Pháp-Thanh 1887&1895 bất bình đẳng.

Một khía cạnh mập mờ bất lợi khác của Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền liên quan đến đường biên giới không được xác định bằng tọa độ địa dư với kinh độ và vĩ độ rõ ràng trong thời đại đo đạt chính xác bằng vệ tinh ngày nay. HUBGDLVNTH ghi ‘Đường biên giới trên đất liền giữa hai nước mô tả ở điều này được vẽ bằng đường đỏ trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 do hai bên cùng xác định, độ dài và diện tích dùng trong mô tả đường biên giới được đo từ bản đồ này. Bộ bản đồ nói trên đính kèm Hiệp ước này là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước.’ Một trong những cột mốc điển hình khó kiểm chứng biên giới ở đâu là giới điểm 42: ‘Từ giới điểm số 42, đường biên giới theo hướng Đông Bắc đến một chỏm núi không tên, sau đó theo đường thẳng hướng Đông đến một chỏm núi không tên khác, từ đó đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 567, 506, 517, 534, 563 đến điểm có độ cao 542, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 570, sau đó lại theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Nam, qua điểm có độ cao 704 đến giới điểm số 43.’

Theo HUBGDLVNTH, giới điểm biên giới cách nhau trên 20 cây số [1300km/(62-1) giới điểm] và ‘Đường biên giới trên đất liền giữa hai nước .. được vẽ bằng đường đỏ trên bản đồ’ đính kèm. Nhưng từ giới điểm 42 Việt Nam hình như không có biên giới bởi vì phải qua những ‘chỏm núi không tên’ đến điểm có độ cao 542 sau đó mới ‘theo đường đỏ’ biên giới. Một đoạn biên giới dài trên hai chục cây số có những đoạn không phân định rõ ràng thì làm thế nào để xác định chủ quyền quốc gia. Ðó là chưa nói đến vấn đề tọa độ Ðông Bắc của đường biên giới vốn là một vấn đề tranh chấp có thể bùng nổ: hướng Ðông Bắc với vĩ độ nào từ 0 độ đến 89 độ (từ bất lợi đến ích lợi cho Việt Nam). Nguyên tắc La Fontaine ‘lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng’ đã được Trung quốc sử dụng đối với Hoàng Sa và Trường Sa cho nên khi đối đầu với việc phân chia các đoạn biên giới mập mờ trong HUBGDLVNTH, nhà nước Hà Nội chắc chắn khó có thể bảo vệ quyền lợi của dân tộc. Sự kiện này cho thấy đảng CSVN đã bất cẩn khi đặt bút ký kết Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền mập mờ tạo ra nhiều mầm móng nguy hiểm cho dân tộc ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai.

II) Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa vi phạm nguyên tắc luật pháp quốc tế căn bản đem đến nhiều thiệt thòi cho dân tộc Việt Nam hiện nay và trong tương lai.

‘Điều I. Hai Bên ký kết .. căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận ..’

Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền hoàn toàn không phù hợp ‘các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận.Như đã trình bày, trên bình diện công pháp quốc tế, Việt Nam có quyền hủy bỏ tất cả các hiệp ước bất lợi được ký kết giữa thực dân Pháp và Thanh triều. Luật pháp từ lâu công nhận nguyên tắc Bất Truyền (principle of nontransmissibility) để cho phép các quốc gia giành được độc lập sau thời kỳ thuộc địa được hủy bỏ hiệp ước bất bình đẳng do đế quốc thực dân ký kết với ngoại bang (The principle of nontransmissibility applies both to secession of ‘newly independent states’ (that is, to cases of decolonization) and to other appearances of new states by the union or dissolution of states.’ Brownlie, Principles of Public International Law, p.668.)

Do đó ‘căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận’ Việt Nam có quyền hủy bỏ Công ước Pháp-Thanh 1887&1895 để đòi lại vùng đất 750 cây số vuông của tổng Tụ Long ở Vân Nam cũng như mũi Bắc Luân ở Quảng Ðông mà thực dân Pháp đã nhượng cho nhà Thanh. Trung quốc cũng không thể phản đối việc Việt Nam yêu cầu Bắc Kinh trả lại các vùng đất này bởi vì chính Bắc Kinh đã đòi lại được Macau từ Bồ Ðào Nha vốn được Thanh triều cho phép chiếm giữ Macau vĩnh viễn (perpetual occupation).

Thay vì hủy bỏ Công ước Pháp-Thanh 1887&1895 để đòi lại vùng đất 750 cây số vuông của tổng Tụ Long ở Vân Nam cũng như mũi Bắc Luân ở Quảng Ðông mà thực dân Pháp đã nhượng cho nhà Thanh, Hà Nội ký kết Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền với đường biên giới mới để chấp nhận chủ quyền của Bắc Kinh trên phần đất này. Do đó sự ghi nhận trong Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền là ‘Hai Bên ký kết .. căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận ..’ thực sự thiếu chính xác cũng như bộc lộ bộ mặt gian xảo của đảng CSVN và đưa đến những hậu quả vô cùng bất lợi cho dân tộc Việt Nam ở giai đoạn hiện tại cũng như trong tương lai khi quốc gia hùng cường cần đến cơ sở pháp lý để đòi lại những vùng đất đã bị Pháp nhường cho nhà Thanh.

III) Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa chính thức xác nhận Hà Nội đã dâng nhượng cho Trung quốc phần đất du lịch nổi tiếng Thác Bản Giốc, vốn là lãnh thổ của dân tộc Việt Nam và được ghi rõ trên bản đồ cận đại.

Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền xác nhận Việt Nam đã mất mát quá nhiều đất đai cũng như hợp pháp hóa chủ quyền của Trung quốc trên các vùng chiếm đóng phạm pháp như vùng đất 750 cây số vuông của tổng Tụ Long cũng như mũi Bắc Luân ở Quảng Ðông cùng một nửa Thác Bản Giốc nổi tiếng vừa bị Hà Nội dâng nhượng cho Bắc Kinh. Thứ trưởng Ngoại giao CSVN Lê Công Phụng trình bày lý do Hà Nội phải dâng một nửa Thác Bản Giốc cho Bắc Kinh là vì ‘Cột mốc [biên giới] không nằm sát Bản Giốc. Khi chúng tôi khảo sát thì mới thấy cột mốc nằm trên một cồn nhỏ ở giữa suối, cách đấy khoảng mấy trăm mét.’ (Lê Công Phụng, VASC Orient, 28/1/2002) Cột mốc biên giới quan trọng và cách xa nhau do đó rất khó tin là đại diện Pháp và Thanh triều đã ngây thơ đến độ đem cột mốc biên giới quốc gia để đóng trên ‘một cồn nhỏ ở giữa suối’ dễ bị nước lũ lấp và cuốn trôi. Giả thuyết khả tín duy nhất là Giải Phóng Quân Trung cộng đã bí mật dời cột mốc đến giữa Thác Bản Giốc như đã làm trong quá khứ [vào năm 1987, nhà nước CHXHCN Việt Nam tố cáo Trung quốc đã dời 100 cột mốc biên giới vào sâu trong nội địa Việt Nam sau cuộc chiến 1979 và vẫn còn chiếm đóng nhiều vùng cao điểm biên giới] nhưng rất tiếc là đảng CSVN đã không dám đặt vấn đề này đối với Bắc Kinh.

Song song, nếu Thác Bản Giốc – một địa danh du lịch – từng được Pháp và Thanh triều dùng làm phân điểm biên giới thì công ước biên giới và các sơ đồ phân giới chắc chắn phải ghi nhận phân điểm biên giới nổi tiếng này. Sự ghi nhận đó sẽ giúp hai bên biết được chủ quyền phân hai của thác nhưng các học giả nghiên cứu không tìm được sự ghi nhận này trong công ước giữa nhà Thanh và Pháp mà ngược lại tìm được bản đồ Bắc phần thời Pháp thuộc (kèm theo sau đây do Ts. Trương Nhân Tuấn kiếm được từ Thư Khố Pháp) cho thấy Thác Bản Giốc nằm sâu trong nội địa Việt Nam gần Bản Trang, Bồng Sơn và thuộc chủ quyền của dân tộc Việt Nam.


Tài liệu và bản đồ Bắc phần thời Pháp thuộc chứng minh Thác Bản Giốc luôn luôn là của Việt Nam cho nên được ghi nhận trong tài liệu giáo dục Việt Nam hàng mấy chục năm qua cũng như đã được Hà Nội cho in trên tem bưu chính đánh dấu kỷ niệm. Chính TT Ngoại Giao Lê Công Phụng và đảng CSVN phải tuyên bố ‘rất lạ là trong sách sử của chúng ta và Trung Quốc từ năm 1960 đến nay, không ai nói thác Bản Giốc có phần là của Trung Quốc. Ngay Trung Quốc cũng không nói đấy là của Trung Quốc. Còn đối với chúng ta, thác này đã đi vào sử sách, nhất là sách giáo khoa của học sinh, thành di tích, điểm du lịch được nhiều người ưa chuộng.’ (Lê Công Phụng, VASC Orient, 28/1/2002)

Ngoài tài liệu và bản đồ Bắc phần thời Pháp thuộc, nguyên tắc luật pháp quốc tế cũng công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với Thác Bản Giốc bởi vì Trung quốc chưa bao giờ phản đối chủ quyền Việt Nam tại đây. Theo nguyên tắc estoppel và adverse possession [doctrines of estoppel và acquisitive prescription] trong công pháp quốc tế, sự im lặng của Trung quốc trong hàng trăm năm qua đồng nghĩa với sự công nhận và chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Thác Bản Giốc. (Ðiển hình qua các quyết định của Tòa Án Quốc Tế trong nhiều vụ như Temple of Preah Vihear (Cambodia v Thailand), 1962 ICJ 6; Case Concerning the Arbitral Award Made by the Kind of Spain (Honduras v Nicaragua), 1960 ICJ 192. ‘Acquiescence is equivalent to tacit recognition manifested by unilateral conduct which the other party may interpret as consent, while estoppel is linked to the idea of preclusion. According to one view, preclusion is in fact the procedural aspect and estoppel the substantive aspect of the same principle…[The two concepts are] different aspects of one and the same institution.’ Gulf of Maine Case, 1984 ICJ, p.305.) Do đó Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền xác nhận đảng CSVN đã bỏ qua các nguyên tắc luật pháp quốc tế căn bản bảo vệ quyền lợi quốc gia cũng như tài liệu và bản đồ biên giới cận đại để chính thức đầu hàng Bắc Kinh và cống hiến một nửa Thác Bản Giốc – địa danh du lịch nổi tiếng – cho Trung quốc vốn nằm sâu trong nội địa Việt Nam và thuộc chủ quyền của dân tộc Việt Nam.

IV) Sự thông qua Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa của Quốc Hội CSVN vi hiến bởi vì Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam 1992 không cho phép dâng nhượng đất đai Tổ Tiên cho ngoại bang.

Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam 1992 quy định quyền hạn của Quốc Hội ở điều 84 bao gồm việc ‘Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước (Ð84[13]).Bản chất thiết yếu của Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa ký kết vào ngày 30-12-1999 và được Quốc Hội CSVN thông qua vào ngày 2-9-2000 là sự công nhận chủ quyền của Trung quốc trên những vùng thuộc chủ quyền Việt Nam như 750 cây số vuông của tổng Tụ Long, mũi Bắc Luân ở Quảng Ðông và nửa Thác Bản Giốc nổi tiếng vừa bị Hà Nội dâng nhượng cho Bắc Kinh. Theo cách diễn giải đơn giản hơn, HUBGDLVNTH mập mờ không phải là ‘các điều ước quốc tế đã ký kết’ bình thường mà là một mật ước từ khước chủ quyền quốc gia và chia cắt những vùng lãnh thổ rộng lớn của Tổ Tiên để cống hiến cho Trung quốc cho nên tạo ra nhiều hậu quả tác hại cho quyền lợi quốc gia và chứa đựng vô vàn mầm móng nguy hiểm cho dân tộc ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai. Ðảng CSVN không những thiếu hiểu biết về lịch sử biên cương nước nhà và không có khả năng bảo vệ quyền lợi dân tộc mà còn đê hèn chấp nhận chủ quyền của Trung quốc trên những vùng tranh chấp bằng cách pháp hóa chủ quyền của Bắc Kinh ở những vùng này qua HUBGDLVNTH.

Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam 1992 không cho phép nhà nước, quốc hội và đảng CSVN dâng nhượng đất đai của Tổ Tiên cho ngoại bang và ngược lại còn bắt buộc phải bảo vệ biên cương nước nhà với lập trường xác định ‘Tổ Quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc .. đều bị nghiêm trị theo pháp luật.’ (Ð13) Do đó việc thông qua Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa của Quốc Hội CSVN vào ngày 6-9-2000 là hành động vi hiến bởi vì Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam 1992 không cho phép dâng nhượng lãnh thổ của Tổ Tiên cho ngoại bang.

Nếu muốn thông qua Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền trong khuông khổ pháp lý hiện hành, Quốc Hội CSVN phải ‘trưng cầu ý dân’ theo điều khoản 84(14) của Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam 1992 và nhân dân sẽ là khối đồng thuận duy nhất có thể chấp nhận hay bãi bỏ hiệp ước bất lợi này. Sự kiện khiếm diện của cuộc trưng cầu dân ý cần thiết và mưu đồ dấu kín Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền cùng ‘Bộ bản đồ .. đính kèm Hiệp ước này là toàn bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước’ cũng như hành động đàn áp ngăn cấm đồng bào quốc nội được tự do bàn luận và khảo sát biên giới quốc gia bộc lộ rõ nét động cơ mãi quốc cầu vinh của đảng CSVN.

V) Nhà nước CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa không bồi thường cho nhân dân Việt Nam bị thiệt hại bởi việc tái định biên giới sau khi Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền được ký kết.

Nhà nước CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa hoàn toàn không bàn đến vấn đề bồi thường cho nhân dân Việt Nam dọc biên giới bị Hà Nội buộc phải dời thôn bản lâu đời với lý do họ sống trên đất Trung quốc (?) vào thời điểm 2000-2001 cũng như hàng ngàn dân Việt Nam bị Giải Phóng Quân Trung quốc đốt nhà và xua đuổi ra khỏi các vùng chiếm đóng đặc biệc là ở Lạng Sơn cạnh quốc lộ 1 vào năm 1992 và sau đó di dân Tàu vào cướp đoạt tài sản đất đai để canh tác nhằm tạo hiện tượng ‘biến thiên về con người, của thiên nhiên, của các sự kiện chính trị.’ (Lê Công Phụng, VASC Orient, 28/1/2002) Nếu đảng CSVN thực sự đã giải quyết vấn đề biên giới với Trung quốc ‘một cách công bằng, hợp lý..,’ nhân dân Việt Nam có quyền đòi hỏi đảng CSVN công bố Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền cùng ‘Bộ bản đồ .. đính kèm Hiệp ước này là toàn bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước’ để được tự do bàn luận và khảo sát biên giới quốc gia cũng bắt buộc đảng CSVN phải trả lời các câu hỏi sau đây:

  1. Trung quốc đã nhượng cho Việt Nam phần đất nào có lợi ngang tầm vóc thác Bản Giốc hay mang tầm vóc lịch sử như một phần của ải Nam Quan ?
  2. Ðảng CSVN có đòi lại được những vùng bị Giải Phóng Quân Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1979 hay không ?
  3. Vấn đề dời lại 100 cột mốc biên giới mà Giải Phóng Quân Trung quốc đã chuyển sâu vào nội địa Việt Nam từ trước vốn đã bị Chính phủ CHXHCNVN lên án vào năm 1987 được giải quyết như thế nào ?
  4. Việc bồi thường cho hàng ngàn dân Việt Nam bị bộ đội Trung quốc đốt nhà cướp đoạt tài sản vào năm 1992 và trước đó ra sao ?
  5. Việc bồi thường cho nhân dân Việt Nam dọc biên giới bị nhà nước Hà Nội buộc phải dời thôn bản lâu đời với lý do họ sống trên đất Trung quốc vào thời điểm 2000-2001 như thế nào ?
  6. Tại sao đảng CSVN không đòi lại vùng đất 750 cây số vuông của tổng Tụ Long ở Vân Nam cũng như mũi Bắc Luân ở Quảng Ðông mà thực dân Pháp đã nhượng cho nhà Thanh theo Công ước Pháp-Thanh 1887&1895 ‘căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận’ là nguyên tắc Bất Truyền (principle of nontransmissibility) mà Trung quốc cũng không thể phản đối bởi vì chính Bắc Kinh đã đòi lại được Macau từ Bồ Ðào Nha vốn được Thanh triều cho phép chiếm giữ Macau vĩnh viễn (perpetual occupation) ?
  7. Tại sao đảng CSVN chấp nhận mất một nửa Thác Bản Giốc trong khi bản đồ Bắc phần thời Pháp thuộc cho thấy Thác Bản Giốc nằm sâu trong nội địa Việt Nam gần Bản Trang, Bồng Sơn thuộc chủ quyền của dân tộc Việt Nam và không có sử liệu nào nói đây là phần đất của Bắc Kinh cũng như nguyên tắc estoppel và adverse possession trong luật pháp quốc tế công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với Thác Bản Giốc bởi vì Trung quốc chưa bao giờ phản đối chủ quyền Việt Nam tại đây ?

Kết Luận

Hiệp Ước Biên Giới trên Ðất Liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa thiếu minh bạch cho nên vô cùng bất lợi cho dân tộc Việt Nam. Hiệp ước này xác định Việt Nam đã mất mát quá nhiều đất đai như vùng đất 750 cây số vuông của tổng Tụ Long cũng như mũi Bắc Luân ở Quảng Ðông cùng một nửa Thác Bản Giốc nổi tiếng vừa bị Hà Nội dâng nhượng cho Bắc Kinh. Song song, sự ký kết hiệp ước cũng bộc lộ khả năng yếu kém và sự bất cẩn vô ý thức của đảng CSVN trong việc bảo vệ quyền lợi quốc gia cũng như đã vi phạm nguyên tắc luật pháp quốc tế dẫn đến nhiều thiệt thòi lớn lao cho dân tộc Việt Nam hiện nay và trong tương lai.

Diễn đàn Dân Chủ
http://www.DanChu.net

Vietnam Policy Research Institute – Viện Nghiên Cứu Chính Sách Quốc Gia do Diễn đàn Dân Chủ khởi xướng và bảo trợ nhằm trình bày tài liệu nghiên cứu của học giả quốc nội và hải ngoại về chính sách cũng như chiến lược liên quan đến quyền lợi của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh phát triển quốc tế.

Vietnam Policy Research Institute created by Dân Chủ Forum to publicize perspectives of learned fellows in Vietnam and abroad invited to review and analyze national issues in order to provide comprehensive short and long-term views on matters important to the interest of the Vietnamese people.

Advertisements

One comment

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s