Nhớ

Viết cho ngày 11 tháng 5, 2003

Đưa người, ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

(Thâm Tâm – Tống biệt hành)

Trên đà Liên Xô cải tổ, khi Đảng Cộng sản không còn kiểm soát và quyết định mọi thứ từ A đến Z thì tôi được xuất ngoại lần đầu sau hơn 20 năm làm việc ở Đài phát thanh. Việt Nam, năm 1988. Đi một lần rồi thì tôi kiếm cớ để đi hoài. Hết chuyên đề này đến chuyên đề khác. Lúc thì Đài phát thanh, khi thì Hội Ký giả đài thọ kinh phí. Chân vừa đặt xuống sân bay Tân Sơn Nhất thì đầu đã nghĩ đến chuyến đi sau. Tôi nghiện Việt Nam như xì ke, ma túy. Đến năm 1991 thì đã đi hơn 20 lần. Trong ba năm mà chừng ấy chuyến công tác! Nhưng nếu tính cho toàn thời gian 20 năm công vụ thì có nhiều nhặn gì đâu!

Lần đó tôi hỏi một nhà báo trẻ về những người có tư tưởng đối lập ở Sài Gòn. Anh kể vài tên tuổi trong giới tôn giáo đang trong tù và “một người vừa được thả, có quan hệ với tổ chức Ân xá Quốc tế”. Tôi muốn gặp nhân sĩ ấy nên anh bạn chở tôi đến nhà người quen để hỏi địa chỉ. Người này biết địa chỉ mà lại không quen. Điều đó có nghĩa là tôi phải tự tìm đến. Có sao đâu! Tên anh là Nguyễn đan Quế. Số nhà là 120/7 đường Nguyễn Trãi, quận 5.

Tôi biết ở VN mọi việc nên tiến hành vào sáng sớm, lúc đầu giờ. Nhưng thức dậy thì phải mặc quần áo, xuống bar ăn điểm tâm, trở lên phòng uống cà-phê, vẽ mắt, lập kế hoạch cho ngày, gọi điện thoại vô số chỗ nên khi đẩy cửa khách sạn bước ra ngoài thì đã quá Ngọ.

Sài Gòn trưa đón tôi bằng một chiếc hôn dài nóng bỏng, thơm mùi lá dứa. Tôi nhắm mắt, ngất ngây. Mở mắt ra thì xung quanh cơ man nào là vé số, báo chí , kẹo bánh, hoa quả, gà sống của nhiều người bán bu lại. Hàng được gánh trên vai, đặt trong xe đẩy, cầm trong tay hoặc ôm vào bụng. Tôi đưa mắt tìm xích-lô. Có hai người đã quen trong mấy ngày ở khách sạn này. Họ neo xe chỉ vì tôi. Khách nước ngoài khác thì có xe hơi đưa đón, chẳng ai có chương trình tự do.

“Cái đuôi” đã theo tôi ra ngoài. Đó là một thanh niên mặc sơ-mi trắng ngắn tay hồi nãy còn ngồi ở khu tiếp tân. Anh Krisevsky, phóng viên thường trú ở Hà Nội nói không sai. Người ngoại quốc được quan tâm theo dõi chu đáo, nhất là giới truyền thông. Tôi nói lớn với anh Sơn xích-lô:

– Đi chợ Bến Thành bao nhiêu?

– Mười ngàn, thưa cô.

Nhân viên an ninh kia đã nghe và không có vẻ muốn đi theo vì không phóng vào sân để lấy Honda. Chiếc xích-lô được nghiêng xuống để tôi bước lên. Tiện chân hơn lên xe hơi nhiều lắm. Xích-lô Sài Gòn thiệt là quá đã! Ngồi cao, gió mát. Tha hồ nhìn ngắm. Và thiên hạ cũng ngắm mình.

Tôi có tật không nhớ tên đường dù đã đi lại nhiều lần. Nhưng muốn biết thì không khó. Tên đường và số được treo biển trên mỗi nhà. Không như ở Mạc-tư-khoa tên chỉ được ghi ở hai đầu đường dài mút chỉ.

Chợ Bến Thành đây rồi! Anh Sơn nhất mực đòi đợi để đưa về nên tôi hẹn anh dưới một bóng râm rồi bương bả đi vào cửa chợ. Hai giờ trưa, chợ vắng người mua. Bắt gặp cặp mắt tôi thì ai cũng tươi cười mời mua hàng. Tôi chợt nhớ phải kềm bước lại, đi cho thong thả. Người Việt thường đi chậm. Sánh bước với họ bên Mạc-tư-khoa tôi rất bực mình, đi gì mà chậm rì như cua lột. Nhưng nhập gia tùy tục. Ở đây mà bước nhanh thì không giống con giáp nào.

Tôi cũng nhớ để nặn ra nụ cười đáp lại các lời chào hàng. Người Việt rất hay cười. Dân Liên Xô thì lúc nào mặt mày cũng bí xị như bị mất phiếu mua đường. Còn chào mời khách mua hàng thì làm gì có ở nước tôi. Người bán chỉ mong khách đi luôn cho khuất mắt, không mắng cho mấy tiếng đã là may!

Tôi ghé mua chai rượu chát. Trả tiền hơi mỏi tay vì nhiều quá. Nhưng đúng thôi, của Pháp chánh hiệu con nai vàng. Ra khỏi chợ bên đường Lê Thánh Tôn thì mua thêm bó hoa.

Nóng quá! Mồ hôi ra ướt áo. Chúng tôi dường như làm bằng sáp ong hay sao ấy? Thèm một ly nước ngọt có ga. Ướp lạnh thôi chứ đừng cho nước đá. Mấy cây nước đá đang nằm chình ình trước cửa quán đợi chủ kéo vô. Tôi không ngại mất vệ sinh đâu. Nhưng đá cục làm loãng nước, mất ngon.

Một nhóm trẻ bụi đời vây lấy tôi, tíu tít như bầy chim sẻ. Nghe tôi hỏi “muốn gì?” thì cả bọn trợn mắt, á khẩu. Đứa nhanh nhẹn nhất liền chạy đi đâu đó lôi về một bé gái đi chân đất, bảo rằng ngủ trưa dưới gốc cây bị chôm mất dép. Hỏi cần bao nhiêu? Nói năm ngàn. Cho tiền cháu bé rồi thì tôi đón xích-lô, đưa mảnh giấy ghi địa chỉ ở đường Nguyễn Trãi.

Đường này trải dài trên hai quận 3 và 5, có đến hai chỗ mang số 120 nhưng bên cạnh không có hẽm. Anh xích-lô không chịu thua cứ đạp lòng vòng. Bảo hỏi khách trên đường thì anh không muốn nên tôi xuống xe tự đi tìm.

Tôi ghé vào hàng cà-phê lề đường để hỏi địa chỉ sau khi đã làm xong thủ tục bằng hai ly cà-phê đá và đen trên bộ bàn ghế nhỏ xíu như của người Chim Chích. Chủ hàng không biết số nhà ở đâu nhưng cho hay trong một hẽm không xa có nhà bác sĩ. Chi tiết anh Quế là bác sĩ không ngờ lại đắc dụng. Vậy mà lúc nghe người quen của bạn nói thì tôi cho là thừa, lẩm cẩm.

Ôm bó hoa và chai rượu đứng lên mới thấy đói làm sao! Quán phở ở gần đó nên tôi bước vào gọi một tô. Thấy tôi đưa mảnh giấy cho bồi bàn thì bà chủ chạy đến. Bồi và chủ đều há miệng nghe bà đầm nói tiếng Việt.

Bà chủ cho biết có hẽm 102 chứ không phải 120, trong đó có nhà của bác sĩ Nguyễn Đan Quế, ăn xong thì bà sẽ dẫn tôi đến. Hóa ra tôi hãy còn khờ. Cứ chú mục vào cái số nhà mà không chịu nói đi tìm ai. Ở VN thì con người được biết rõ hơn con số, ngược lại với bên Âu-Mỹ.

Không phải bà chủ mà ông chủ quán tranh làm hướng dẫn viên. Đi bộ thì chắc là gần vì nếu không thì ông đã điều ra chiếc Honda hoặc xe đạp. Bó hoa tôi để lại trong quán vì không còn tươi nữa. Chỉ còn chai rượu nên đỡ cồng kềnh. Tôi lót tót theo sau ông chủ quán, lòng mừng khấp khểnh. Ông ta cũng vui, thỉnh thoảng ngoái nhìn tôi mỉm cười, không biết rằng đây là trường hợp ngoại lệ nên tôi mới chịu đi sau. Chớ ở bên nước tôi thì đừng hòng, phụ nữ đi trước đàn ông mới là đúng điệu!

Một đám rước nhỏ diễn ra từ đầu hẽm đến tận nhà anh Quế. Lũ trẻ con chạy theo tôi hò reo tỡ mỡ: Liên-Xô, Liên-Xô ! Còn chi là bí mật, bật mí rồi !

Ông chủ quán chỉ căn nhà có tấm biển đồng trên trụ cửa: Phòng mạch bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Tôi cảm tạ bằng một bao thuốc lá ba số năm móc ra từ xắc tay nhưng ông ta từ chối, tần ngần như cũng muốn gặp chủ nhà. Nhưng tôi kiên quyết đợi ông đi rồi mới bấm chuông.

Mới đó mà đã tối. Vào tối tháng 5 – 1990 này tôi được làm quen với anh Quế. Anh không tỏ vẻ gì ngạc nhiên trước nữ ký giả Liên Xô từ trên trời rơi xuống. Như đã biết nhau từ lâu. Nghe tôi muốn giới thiệu cho nước Nga các xu thế chính trị đối lập của trí thức VN thì anh rất hoan nghênh và bảo rằng: Tôi sẽ gây nên một cao trào …

Chị Quế rất đẹp và duyên dáng, là ca sĩ Tâm Vấn một thời vang bóng. Hoa trên bàn tuyệt sắc. Rượu mơ tự ướp cực kỳ ngon.

Tôi hẹn ngày lấy tài liệu. Và đến sớm vì lên cơn đau gan, e rằng không đi nổi. Anh Quế chẩn bệnh, cho ba viên thuốc, một uống liền, hai để cho ngày hôm sau. Anh đã soạn tài liệu và đang mong tôi đến sớm. Đó là hai tập giấy quay ronéo, một bản tôi sẽ gửi cho bạn anh ở Canada; nội dung bàn về tình hình quốc tế, quốc nội và đòi hỏi Đảng CS VN trả lại quyền tự quyết cho toàn dân.

Bài tiểu luận về “Cao trào Nhân bản” vừa được dịch và đăng trên báo “Moscow News” thì anh Quế bị bắt. Những lần đi Sài Gòn sau đó tôi đều đến căn nhà số 102/7. Vẫn hoa tươi và rượu mơ nhưng chỉ còn hai phụ nữ chúng tôi ngồi bên nhau im lặng.

Tháng 11 – 1991 vào ngày xử anh Quế và một thành viên của Cao trào Nhân bản, tôi tìm đến Toà án ở đường Nam Kỳ khởi nghĩa vốn là đường Công Lý. Tôi đến sớm nên ngồi chờ trong căng-tin ở sân Toà án. Một xứ sở lạ lùng! Hàng quán đâu cũng có. Và thi ca tràn ngập, xuất khẩu thành thơ.

“Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”

Đó là dư luận của dân Sài Gòn về việc đổi tên đường. Còn đây là lời than của một nữ giáo viên trên Sông Bé:

“Dép râu dẫm nát đời con trẻ
Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai”

Thân nhân của hai gia đình đã đến. Chị Quế cùng đi với ba người con riêng đã trưởng thành là các cháu Hương, Huy, Hoàng mà tôi cũng biết. Mười hai giờ trưa thì một chiếc com-măng-ca chạy vào sân, nhả ra hai người mặc đồ sọc, tay bị còng. Tôi xông vào ôm anh Quế. Anh nói khẽ: Rất tốt!

Khi hai bị cáo được dẫn vào phòng xử thì tôi bị mời ra ngoài ngồi đợi kết quả trong một phòng nhỏ với chiếc ly, ấm trà và một người giám sát ngoài cửa. Một nhóm nhà báo đi ngang qua phòng định tạt vào uống trà nhưng bị đuổi thẳng cánh. Tôi như con bệnh truyền nhiễm cần phải cách ly. Trong nhóm này có Kiêm, từng công tác chung với tôi ở Ban tiếng Việt Đài phát thanh MTK, đang phụ trách mục Pháp luật trên Đài truyền hình thành phố. Thấy tôi ngồi trơ trọi trong phòng, Kiêm không hiểu gì cả, tưởng gặp ma, nhưng cũng kịp nói lớn một câu để tỏ rõ lập trường, không biết với ai?

– Vụ án này chẳng có gì hay, một kẻ âm mưu phá hoại chế độ đấy mà!

Rồi anh Quế vào tù. Tôi không đi VN nữa. Khi anh về, bị quản thúc tại gia thì tôi có gọi điện thoại hàn huyên một lần, trước khi đường dây bị cắt.

Nay được tin anh lại bị bắt vì định ra Internet cà-phê để gửi tài liệu ra nước ngoài. Ôi, rõ khổ cho anh!

Không phải vì gặp tôi mà anh Quế mới nảy ra ý định lập Cao trào Nhân bản. Nhưng sao tôi cứ mãi ray rứt về điều này. Chỉ tạm yên lòng khi nhớ anh đã nói rằng: Rất tốt.

Thắm thoát đã 12 năm trôi qua kể từ ngày ấy. Tôi cũng tin rằng sẽ rất tốt cho 80 triệu con dân Việt Nam, nhưng không phải bây giờ.

Irina Zisman
5/3/2003 nguồn: vietnest.com

Advertisements

One comment

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s