Cột đồng Mã Viện

Theo truyền thuyết, đỉnh núi Lam Thành - nơi chôn "đồng trụ" của Mã Viện ở Hưng Nguyên

Theo truyền thuyết, đỉnh núi Lam Thành – nơi chôn “đồng trụ” của Mã Viện ở Hưng Nguyên

cot-dong-ma-vien

L.T.S: “Trong cuộc tìm hiểu cuộc Nam tiến, việc xác định biên giới Việt – Chiêm trước thời kỳ bành trướng rất cần thiết. Chúng tôi xin đăng bài: “Cột đồng Mã Viện”, nguyên tác Pháp ngữ của Đào Duy Anh, bản dịch của Nhất Thanh, rất quan hệ đối với việc xác định biên giới nói trên”

[2].Trong bài viết này, tác giả đã trưng ra nhiều bằng chứng trong các tài liệu (nhất là của Trung Quốc) của các sử gia xưa về vị trí của các cột đồng Mã Viện đã dựng sau khi đàn áp thành công cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 43 sau công nguyên (như là một phong tục, một cách thức ghi nhớ chiến công của viên tướng được mệnh danh là Phục Ba tướng quân. Tương truyền rằng viên tướng tài ba này sau khi đàn áp thành công cuộc khởi nghĩa của hai vị nữ lưu anh kiệt của đất Giao chỉ đã dựng lên các cột đồng để ghi nhớ chiến công của ông, và các sách sử cũng ghi lại các cột ấy cũng có tác dụng như cột mốc biên giới giữa Giao chỉ với vùng đất của người Chăm (Chàm) ở phía Nam. Trên trụ đồng, Mã Viện cho khắc dòng chữ: “trụ đồng gãy, giao chỉ diệt”). Sau đó, tác giả minh chứng tính chất bất hợp lý trong một số tài liệu để cuối cùng có thể “khoanh vùng” được vị trí của các cột đồng (nếu nó thực sự tồn tại). Liệu các cột đồng có thể đã được dựng lên ở đâu? Quảng Đông, Thanh Hóa, Nghệ An, Hoành Sơn, hay thậm chí xa xuống phía Nam trên núi Đá Bia, khu vực Phú Yên? Xin mời những ai lưu tâm đến chi tiết lịch sử khá thú vị này cũng như lưu tâm đến một di vật (nếu nó thực sự tồn tại) lịch sử đến với bài viết của học giả Đào Duy Anh:

CỘT ĐỒNG MÃ VIỆN

Nguyên tác: Đào Duy Anh[1]

Bản dịch: Nhất Thanh

Cột đồng Mã Viện vẫn là chuyện bí ẩn khó mà biết rõ, cho đến nay chưa một nhà sử học nào làm sang tỏ được. Henri Maspéro trứ danh về môn khảo cứu Trung Hoa, trong tập san Trường Viễn Đông Bác Cổ quyển XVIII số 3 năm 1918, viết về cuộc viễn chinh của Mã Viện có nói đến những cột đồng kia nhưng chỉ là để bác bỏ, cho là không có. Mới đây, trong tạp chí Tri Tân số 14 ngày 12 tháng 9 năm 1941, Nguyễn Văn Tố, hội viên trợ bút trường VĐBC đã sưu tập một số bài viết xưa chữ nho và chữ Việt nói về những cột đồng sử tích kia, nhưng cũng vẫn không đem lại gì thêm minh bạch cho vấn đề.

Những cột đồng kia có thực sự đã được dựng lên chăng? Nếu chẳng tìm thấy dấu vết gì thì làm sao có thể phỏng đoán được là đã dựng ở đâu? Nay ta thử tìm cách giải đáp hai câu hỏi trên.

Trước hết ta hãy gạt bỏ một bên lời nguyền Mã Viện khắc trên cột đồng. Theo chỗ chúng tôi biết thì sách An Nam Chí Lược của Lê Tắc (đầu thế kỷ XVI) là sách xưa nhất đã nói đến cột đồng. Truyền rằng ngày xưa ở vùng động Cổ Sâm đất Khâm Châu có những cột đồng do Mã Viện dựng với lời nguyền: “Cột đồng gãy thì Giao Chỉ bị tiêu diệt”. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (thế kỷ XIX) chép lời nguyền kia có nói rõ đó chỉ là do khẩu truyền mới về sau. Nhưng không một sử sách nào thời xưa thuật lại cuộc viễn chinh của Mã Viện có nói đếnlời nguyền kia. Chúng tôi tán đồng quan điểm của ông Nguyễn Văn Tố coi truyền thuyết kia như chuyện cổ tích.

Nhưng chính những đồng trụ kia thật có chăng? Sách Hậu Hán thư (chương nói về tiểu sử Mã Viện)[3] và cả sách Hậu Hán kỉ đều không nói đến việc dựng đồng trụ, và chính vì vậy mà ông Maspero cho là không có cột đồng.

Nhưng sách Quảng Châu kí (thế kỷ IV hoặc V) có ghi chép là từ xa xưa đã có truyền thuyết Mã Viện dựng đồng trụ. Hơn nữa, trước sách Quảng Châu kí, còn có sách Ngô lục của Trương Bột (đầu thế kỉ IV) cũng đã nói về những cột đồng ấy như sau, mà không nói là do Mã Viện dựng: “Ở Tương Lâm, ngoài biển khơi, có một hòn đảo nhỏ sản xuất nhiều vàng. Đi chừng 30 dặm đường từ phía Bắc xuống thì đến đất Tây thuộc. Dân cư ở đây vẫn tự nhận là dòng dõi Hán tộc. Ở đây, có những cột đồng mà người ta bảo là để phân định ranh giới đất Hán”[4].

Nhưng ở sách Thủy Kinh chú, ta mới thây truyền thuyết kia có vẻ rõ ràng hơn cả, sách này (cuối thế kỷ VI) chép: “Mã Văn Uyên, (bút hiệu của Mã Viện) đã dựng những cột bằng kim khí (kim tiêu) để đánh dấu biên giới phía nam đất Hán”. Lời xác đoán này lại được phụ chú thêm lời giả thuyết của Du Ích Kì và Hàn Khang Bá: “Mã Văn Yueen dựng hai cột đồng trên bắc ngạn Lâm Ấp và để cho ở lại đấy chừng một chục gia đình quân lính không quay trở về, định cư trên nam ngạn Thọ Linh đối diện với những đồng trụ. Bọn họ thuộc tộc Đảng Mã, kết hôn với nhau và ngày nay đông đảo đến khoảng hai trăm gia đình. Người Giao Chỉ coi họ như từ tha phương lưu đày, và gọi họ là bọn Mã lưu.. Ngôn ngữ ẩm thực của họ ngày nay vẫn gòn giống như người Trung Hoa. Tang thương biến đổi, những cột đồng ngày nay thành ra ở ngoài biển khơi, và chỉ còn có bọn Mã lưu kia để chứng minh dấu tích nơi xưa”[5].

Theo sách Lâm Ấp kí thì những cột đồng ấy là để phân ranh hai lãnh thổ Hán với Tây đô[6]

Vả lại, sử Trung Hoa thường chép những sự việc dựng cột để kỉ công những cuộc viễn chinh. Sau Mã Viện có nhiều tướng Trung Hoa như Hà Lí Trinh, Trương Chu và Mã Tổng đời Đường, Mã Hi đời Hậu Tấn, đã dựng cột đồng ở mấy xứ phương Nam, theo gương viên danh tướng nhà Hán nọ.

Chúng tôi thiết tưởng dù ta không có bằng cớ đích xác không thể chối cãi được về việc Mã Viện dựng cột đồng thì ta cũng vẫn không có lí lẽ chắc chắn để quyết đoán phủ nhận việc ấy. Vậy, chừng nào chưa tìm ra được chứng cứ trái ngược, ta hãy chấp nhận đã có việc dựng cột đồng, và ta thử tìm hiểu xem những cột ấy có thể được dựng ở nơi nào[7].

Thế thì cột đồng dựng ở đâu? Ngày nay còn có vết tích gì không? Về điểm này thì những kiến giải của các nhà trước thuật Trung Hoa và Việt Nam cũng như những truyền thuyết ở Trung Hoa và ở Việt nam đều bất nhất, chẳng tương đồng, hoặc cho rằng cột đồng dựng ở đất Quảng Đông thuộc Trung Hoa, Hoặc cho rằng dựng ở tỉnh Phú Yên thuộc lãnh thổ Chăm Pa xưa. Theo sách Lĩnh Ngoại đại đáp (đời Đường) và sách An Nam Chí Lược kể trên, thì những cột đồng đã được dựng ở Khâm Châu trong vùng động Cổ Sâm. Thực là khó mà dựa vào thuyết này được vì bờ cõi Hán bao gồm cả Giao Chỉ, Cửu Chân, và Nhật Nam, ắt phải rộng xuống nhiều hơn về phí nam. Đó chỉ là chuyện vu vơ, nguyên do vì thời Nguyên Hòa (806-820) đời Đường viên đô hộ sứ Mã Tổng có dựng ở núi Phân Mao đất Khâm Châu những cột đồng, noi gương tiền nhân (Mã Viện) mà Tổng nhận là dòng dõi. Truyền thuyết này được thêu dệt thêm ra, đã làm cho người ta lầm tưởng những cột đồng này là ở nơi Mã Viện đã dựng cột từ xưa. Trái lại, sách Tân Đường Thư cũng như dã sử của ta có chép rằng cột Mã Viện dựng ở trên một trái núi tục gọi là núi Đà Bia[8], còn có tên chữ ngà Ngũ đồng trụ sơn, ở phía nam sông Đà Lang (Đà Rằng) tỉnh Phú Yên[9]. Ức thuyết này cũng không thể chấp nhận được, vì cái cột ở đây chỉ là một phiến đá thiên nhiên ở trên núi.

Sách Lĩnh biểu lục dị nói cột đồng Mã Viện dựng ở nơi khác. Sách này chép: Vi Công Cán khi làm thứ sử Ái Châu thấy trong hạt mình cai trị có những cột đồng sinh lòng tham muốn mưu bán. Dân không chịu, đem việc tố cáo với viên đô đốc Hàn Ước. Ông này gửi văn thư khiển trách Công Cán mới tử bỏ ý định[10]. Nói như vậy là cột đồng Mã Viện ở trong khu vực Ái Châu, thì ra điều này cũng ám hợp với những suy luận của H. Maspero về lộ trình của Mã Viện. Dù H. Maspero có nghi hoặc về những cột đồng kia nhưng ông cũng đã biện bạch rằng nơi cuối cùng Mã Viện đã mang quân đến là huyện Cư Phong, ông đã nói rõ vị trí huyện này ở phía nam tỉnh Thanh hóa ngày nay, tức là Ái Châu đời Đường (huyện Cơ Phong thời Tiền Hán và Hậu Hán thuộc Cửu Chân, đất Cửu Chân Thời Lương, Tùy và Đường đổi tên là Ái Châu). Ông còn nói chắc rằng huyện Dư Phong sang thế kỷ III đổi tên là Di Phong, sau thành ra lị sở của Cửu Chân ở trên Lương Giang (tức sông Chu, tỉnh Thanh Hóa ngày nay).

Nếu coi Cư Phong là nơi cuối cùng Mã Viện đem quân đến thì ta chỉ có thể chấp nhận hai định kiến sau đây về vấn đề đồng trụ:

Một là thừa nhận có đồng trụ. Trong trường hợp này thì phải cho là đồng trụ được dựng ở Lương Giang, nhưng ở miền này tuyệt nhiên không có di tích gì, cũng không có truyền thuyết gì về đồng trụ.

Hai là không nhận có đồng trụ như Henri Maspero đã quyết đoán. Nhưng ta đã nhận thấy, như đã nói ở trên, không có đủ lí lẽ để chối cãi cho rằng không có đồng trụ.

Nhưng ta có thể coi Cư Phong là điểm chót của cuộc viễn chinh Mã Viện chăng? Theo cổ sử thì Mã Viện đuổi đánh quân bà Trưng Trắc, như tì tướng Đô Dương, đến Cư Phong, tại đây quân Bà thua phải hàng. Mã Viện bèn sai dựng cột đồng để đáng dấu ranh giới cùng kiệt lãnh thổ Hán[11]. Nếu hiểu rộng nghĩa câu vừa kể thì ta thấy rằng Cư Phong chỉ là nơi Đô Dương và quân lính ta ra hàng, nhưng có gì cấm đoán ta không được nghĩ rằng Mã Viện đã chẳng tiến quân xuống quá đấy sao? Mà chính thế, sách Thủy Kinh Chú chép rằng sau khi quân bà Trưng ra hang ở Cửu Chân, Mã Viện chia quân của ông ra làm hai đạo, một đạo tiến đến châu Vô Biên, một đạo tiến đến châu Cư Phong[12]. Thời Tiền Hán, Vô Biên là một phần đất Cửu Chân, thời Vương Mãng (9 – 23) gọi là Cửu Chân đình, tức là lị sở của Cửu Chân; thời Đường, Vô Biên là một phần lãnh thổ Long Trì[13] (Phủ Diễn Châu ngày nay). Như vậy là quân Mã Viện đã tiến xuống đến đất Nghệ An ngày nay.

Theo giả thuyết của Du Ích Kì và Hàn Khang Bá trên kia thì Mã Viện đã dựng cột đồng trên bắc ngạn Lâm Ấp. Nhưng hồi ấy Lâm Ấp chưa thành lập như một nước. Hai nhà thuyết giải kia viết như vậy là muốn nói đến bắc ngạn con sông về sau đã dùng làm biên giới giữa Lam Ấp và đất mới quy hàng quân Hán, nghĩa là theo ý họ, con sông qua là Thọ Linh. Nhưng đến đây, ta vấp phải vấn đề rất quan trọng đã tranh luận, là vấn đề ranh giới đất Chăm.

Theo hai nhà thuyết giải trên thì Thọ Linh là ranh giới của Lâm Ấp . Sách Thủy Kinh Chú còn viện dẫn rằng năm Chính Thủy thứ 9 triều Ngụy (247), quân Lâm Ấp xâm chiếm lãnh thổ Thọ Linh và đặt nơi đây làm ranh giới, lại có nõi rõ thêm rằng tên sông Thọ Linh là do tên huyện Thọ Linh mà ra. Nhưng phải xác định vị trí huyện Thọ Linh vào chỗ nào? Vẫn theo sách Thủy Kinh Chú thì vào năm thứ 6 niên hiệu Nguyên Đỉnh (III tcn) vua Hán Vũ Đế đặt lị sở Nhật Nam ở Tây Quyển, và theo sách Tống Châu quận chí thì vào văn thứ 10 niên hiệu Thái Khang, vua Tấn Vũ đế chia cắt đất Tây Quyển lập ra huyện Thọ Linh. Vậy huyện Thọ Linh trước là một phần đất Tây Quyển sau trở thành đất tiếp giáp nhau, và cả hai huyện để ở trong đất Nhật Nam. L. Aurousseau[14] đã đưa ra lập luận bằng cách suy lí ráo tiết tinh vi, dựa theo bằng cứ lịch sử địa dư thiên văn dẫn ở các sách cổ, cho rằng Tây Quyển hẳn là ở vùng lân cận tiếp giáp với Huyế ngày nay, và Thọ Linh chính là con sông đào Phủ Cam (tức sông La-ỉ xưa). Nhưng chúng tôi lấy làm ngờ vực việc xác định vị trí sông Thọ Linh của ông L. Aurousseau là điều ta quan tâm khi cho nó là ranh giới Lâm Ấp.

Theo sách Thủy Kinh chú và những giải thuyết của Du Ích Kì, Hàng Khang Bá thì sông Thọ Linh có lúc đã là biên giới của Lâm Ấp. Nếu vậy thì phải là một con sông lớn chảy từ tây sang đông mới có thể dùng làm biên giới nơi đây được. Và như vậy, Thọ Linh không thể chỉ là một con sông nhỏ ngày nay nhờ có đào vét khơi rộng mới thành con sông đào Phủ Cam, mà dòng nước chảy thì từ bắc xuống nam.

L. Aurousseau đã phỏng định đúng vị trí của sông Lô Dũng nhưng không đúng về sông Thọ Linh; sách Đại Nam nhất thống chí cho rằng sông Thọ Linh với Linh Gianh hay Sông Gianh chỉ là một; mặc dù thống chí chỉ căn cứ vào hai chữ[15] khác nhau mà đồng âm, chúng tôi cũng thấy sự nhận định ấy còn do khả.

Nếu sông Thọ Linh xưa là Linh Giang bây giờ thì ta phải kê cứu xem có phải cột cồng Mã Viện dựng ở phái nam Hoành Sơn trên sông Gianh, cách Đồng Hới 34 cây số về phía Bắc? Như ta đã nhận xét về con sông Lương Giang tỉnh Thanh Hóa, ở vùng này không có một di tích nào cũng không có truyền thuyết gì liên quan đến cột đồng. Thế thì ta phải gạt bỏ ý tưởng cho con sông này là biên giới cũ của Hán, và do không còn có chứng cứ nào để nhận định tìm ra ở vùng này nơi đã có dựng cột đồng.

Vả lại, ta không chắc gì Mã Viện đã tiến quân qua dãy Hoành Sơn[16]. Theo sự nhận xét của chúng tôi, Du Ích Kì và Hàng Khang Bá thấy sử sách xưa có chép về cột đồng đánh dấu biên giới phía nam lãnh thổ Hán, thì nghĩ rằng những cột ấy hẳn là ở biên giới Lâm Ấp. Biết đâu các ông ấy đã chẳng lầm chỉ vì thấy thời Ngụy, nước Lâm Ấp đã chiếm cứ vùng Thọ Linh và đặt ranh giới ở đấy, mà cho rằng cột đồng đã được dựng trên sông Thọ Linh.

Nhưng dù biên gới của Lâm Ấp về thế kỉ IV là dãy Hoành Sơn (biên giới này không thấy được xác nhận trong sử Trung Quốc) người Chăm đã nhiều lần vượt qua tràn lên miền Hà Tĩnh, Nghệ An ngày nay, tàn phá quận Cửu Chân.[17] Hồi Lâm Ấp chưa lập thành nước thì miền đất ở phía nam dãy Hoành Sơn là quận Nhật Nam thuộc Hán, dân cư đây không phải người Việt Nam mà là những bộ lạc giống người Nam Dương cũng như người Mọi ngày nay; một vài bộ lạc ấy về sau đã hỗn đồng với giọng người Mã Lai từ phía nam lên kết thành dân tộc Chăm. Những rợ này trong số có một chủng tộc gọi là Tây Đồ Di[18], đã vợt qua dãy Hoành Sơn vùng Nghệ Tĩnh ngày nay, hồi ấy còn là đất quân Nhật Nam, vào khoảng năm 264 nhà Ngô mới chia cắt lập ra quận Cửu Đức.[19]

Vậy thì, nếu một đàng đất Nhật Nam bao gồm cả miền Nghệ Tĩnh ngày nay, và đàng khác nếu Mã Viện đã không tiến quân qua dãy Hoành Sơn thì ta phải tìm cột đồng ở phía bắc chứ không phải ở phía nam dãy núi này.

Nhưng tại sao sách Ngô Lục chép cột đồng ở Tượng Lâm. Tượng Lâm là một huyện ở phía nam Tương quận đời Tần và quận Nhật Nam đời Hán[20]. Quận Nhật Nam sau bị người Chăm xâm chiếm và lập ra nước Lâm Ấp[21]; Lâm Ấp cũng lại là tên cũ của một huyện mà người Hán gọi là Tượng Lâm[22]; và chính vì vậy mấy nhà trước thuật Trung Hoa đời sau đã lầm lẫn về thời đại, có lúc đã gọi Nhật Nam là Lâm Ấp, là Tượng Lâm. Trương Bột trong sách của ông viết thế kỷ IV nghĩa là vào hồi người Chăm đã kiến lập nước họ, có lẽ đã muốn gọi chung tất cả lãnh thổ Nhật Nam đời Hán bằng tên Tượng Lâm, chứ không riêng gì một huyện Tượng Lâm và L. Aurousseau cho là ở Trà Kiệu tỉnh Quảng Nam ngày nay.

Phần thì ta đã nhận thấy rằng có thể Mã Viện đã tiến quân đến vùng Nghệ An ngày nay, phần thì ta đã ý thức rằng những cột đồng có thể đã được dựng ở phía bắc Hoành Sơn, vậy thì ta chỉ còn phải tìm tòi ở quanh vùng Nghệ Tĩnh ngày nay. Sự chú mục của ta hẳn là phải dồn cả vào một quả đồi cô lập ở tả ngạn Lam Giang, nơi đường xe lửa vượt qua sông, cách Vinh chừng mười cây số về phía tây nam (quả đồi này ghi độ số cao 169 trên địa đồ). Sách Đại Nam nhất thống chí (đời Thành Thái) gọi đồi này là Hùng Sơn, nhưng tục vẫn gọi là Núi Thành hay núi Lam Thành và còn gọi là núi Đồng trụ. Trên đỉnh đồi còn di tích một thành cũ của tướng Trung Hoa Trương Phụ xây để chống đánh ta hồi cuối đời Trần. Ở trong thành ta còn nhận ra được một đống đá là nơi có lẽ Trương Phụ đã cho dựng cột cờ, nhưng có truyền thuyết trong dân chúng cho rằng đấy là nơi đã dựng cột đồng. Trong sách Nghệ An chí, một nho gia thời Lê mạt và thời Tây Sơn là Bùi Dương Lịch đã căn cứ vào tên cũ của quả đồi và vào truyền thuyết kia, quyết đoán là Mã Viện đã dựng cột đồng ở đấy. Henri Le Breton trong sách Le Vieux An Tịnh[23] ông viết, có lập lại thuyết ấy mà không trưng thêm bằng cứ gì khác. Giờ thì ta hãy xét xem ức thuyết ấy có thể đem khảo cứu được chăng?

Cứ theo một đoạn sách Ngô lục đã kể trên, thì xưa ở vùng Tượng Lâm, ngoài khơi có “một hòn đảo nhỏ sản xuất nhiều vàng. Đi vào chừng 30 dặm từ bắc xuống nam thì đến nước Tây Đồ. Dân cư ở đấy tự nhận là dòng dõi Hán tộc; ở đấy có những cột đồng.”

Suốt dọc ven biển Nghệ Tĩnh chỉ có đảo Hòn Niêu là có thể coi như ám hợp ít nhiều với lời chép đoạn sách trên kia, dù đảo này không sản xuất vàng. Từ Hòn Niêu nếu ta đi theo hướng bắc xuống nam hay hướng đông bắc sang tây nam thì ta đến cửa sông Lam Giang hay cửa Hội, và nếu đi ngược dòng sông ấy ta đến Núi Thành, đường đi như vậy tất cả chừng 35 cây số. Nhưng nếu theo đường thẳng đằm thì đường đi chỉ độ 20 cây số, nghĩa là cũng suýt soát 30 dặm như Trương Bột đã viết trong sách. Núi Thành phải chăng là nơi có cột đồng mà Trương Bột đã nói? Ông gọi miền này là nước Tây đồ. Theo sách Lâm Ấp kí thì chính là để dánh dấu biên giới giữa lãnh thổ Hán và nước Tây đồ mà Mã Viện đã dựng cột đồng. Như chúng tôi đã nói trên kia, nước Tây đồ có thể là một trong những bộ lạc dòng giống Nam Dương ở rải rác đến tận phía bắc dãy Hoành Sơn.

Theo thuyết giải của Du Ích Kì Hàn Khang Bá và theo sách Lâm Ấp kí thì Mã Viện sau khi đã dựng cột đồng, có để lại, như ta đã biết độ một chục gia đình quân lính ở lại trên bờ phía nam sông Thọ Linh, đối diện với những cột đồng.

Ví phỏng việc ấy có thực và những cột đồng được dượng trên Núi Thành thì những người Mã lưa kia có thể đã được để ở lại trong làng Nam Ngạn ngày nay (phủ Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh) trên hữu ngạn Lam Giang. Đất đai những làng Quang Du, Hưng Nghĩa và Hưng Phúc hiện giờ ở bờ sông là do đất phù sa mới nổi nên. Xem địa đồ tỉ lệ xích 1/100000 ta thấy rõ dòng cũ Lam Giang đã chảy qua Nam Ngạn. Chúng tôi không dám quyết đoán tên Nam Ngạn của làng này hẳn có lien quan với hai chữ Ngạn Nam ở đoạn sách kể trên nói về nơi người Mã lưu định cư; nếu chỉ là tình cớ có sự trùng hợp thì thực không khỏi làm cho ta băn khoăn.[24]

Sau hết, điều dẫn ra sau đây trong sách Tùy thư có thể bênh vực cho ức thuyết của chúng tôi: “Tướng Trung Hoa Lưu Phương được cử đi đánh quân Chàm đã đem quân qua nơi có cột đồng Mã Viện và tiến xuống phía Nam, đi tám ngày đường đến kinh đô nước Lâm Ấp”. Kinh đô này là Trà Kiệu, vậy thì không phải là vu vơ khó tin khi cho rằng những cột đồng nói trong đoạn sách vừa kể là ở miền Lam Giang.

Ta đã nhận ra không có lẽ gì để cố chấp mà chối cãi việc Mã Viện có dựng cột đồng, vì một số sử sách xưa đã có nói đến, vì việc dựng cột đồng là một tập tục cựu truyền của các tướng Trung Hoa đem quân viễn chinh xuống các nước phương nam. Nay thì không còn có vấn đề cho rằng cột đồng ở Quảng Đông hay ở Phú Yên nhưng mấy truyền thuyết của Tàu và của ta. Mà cũng khó có thể cho rằng cột đồng ở Thanh Hóa là đất Ái Châu đời Đường, vì ta đã biện minh được Mã Viện đã đem quân xuống đến đất Nghệ An ngày nay. Trái lại, sau khi đã kê cứu ức thuyết của L. Aurousseau về vị trí sông Thọ Linh, và mặt khác sau khi đã nhận xét về giả thuyết của Du Ích Kì Hàn Khang Bá cho là cột đồng ở bắc ngạn sông ấy, và đồng thời ta cũng đã không thể khám phá ra vị trí cột đồng ở phía nam dãy Hoành Sơn, vậy là ta đã thu hẹp lại được phạm vi tìm tòi, và giờ chỉ còn phải giới hạn công việc dõi tìm trong vùng Nghệ Tĩnh. Tại vùng này, chúng ta đã nhận biết Núi Thành chỉ cách Vinh chừng mười cây số về phía tây nam trên tả ngạn Lam giang, là điều gần đúng với lời chỉ dẫn trong sách Ngô Lục và sách Tùy thư về nơi có cột đồng, ý suy định này lại càng thêm vững chắc vì có những truyền thuyết ở địa phương gọi quả đồi này bằng tên rõ, tất có ý nghĩa: la Núi Đồng Trụ.

Không phải là ngụy biện nếu cho rằng sau khi đã dẹp cuộc khởi nghĩa ở mấy châu quận, đích thị ở trên quả đồi này Mã Viện đã dựng cột dồng để “ghi lại mãi mãi về sau” công bình định và đồng thời để đánh dấu biên giới lãnh thổ Hán với đất đai các bộ lạc “man rợ” rộng đến quá hữu ngạn Lam giang ngày nay.

Nhất Thanh dịch

LỜI BÀN CỦA NGƯỜI DỊCH

Sách Anh Nam chí lược chép:

Mã Phục Ba đời Hán dẹp yên Giao Chỉ rồi dựng cột đồng để đánh dấu biên giới lãnh thổ Hán. Đời Đường Mã Tổng làm chức An Nam đô hộ, lại dựng hai cột đồng, vì Tổng là dòng dõi Phục Ba. Xưa truyền rằng ở động Cổ Sâm tại Khâm Châu có cột đồng của Mã Viện, với lời thề rằng; “cột dồng này gãy thì Giao Chỉ tiêu diệt” vì thế người Giao Châu mỗi khi đi ngang qua đều lấy đá ngói ném vào chung quan chân cột, và chẳng bao lâu nơi ấy hóa thành gò đống”.

Thơ Đỗ Phủ có câu: “Vũ lai đồng trụ bắc, ý tẩy Phục Ba quân” (mưa phía bắc đồng trụ, muốn rửa quân Phục ba).

Nơi ranh giới Chiêm Thành cũng có cột đồng, thơ Mạnh Hạo Nhiên có câu: “đồng tụ Nhật Nam đoan” (cột đồng đứng đầu đất Nhật Nam).

Có lẽ tác giả An Nam chí lược đã viết đoạn trên theo sách Lĩnh ngoại đại đáp (đời Đường). Sách này chép: cột đồng dựng ở Khâm Châu trong vùng động Cổ Sâm. Nhưng ở đoạn dưới lại nói nơi ranh giới nước Chiêm Thành cũng có cột đồng, như vậy nghĩa là có cột đồng khác; và liền tiếp với câu này lại kể thơ Mạnh Hạo Nhiên như để bổ túc cho rõ nghĩa thêm là nơi có cột đồng ở Chiêm Thành là nơi giáp giới Nhật Nam.

Sách Ức Trai di tập (dư địa chí) còn có tên là Anh Nam Vũ Cống của Nguyễn Trãi chương XXV chép: “Ở về phái tây lộ Hải Đông chừng 300 dặm có núi Phan Mao, lưng chừng núi có cái cột đồng do Mã Viện đời Hán dựng lớn chừng ba thước. Đến giữa niên hiệu Nguyên Hòa (Đường Hiến Tôn 805-820) viên đô hộ Mã Tổng lại dựng cột đồng vào chỗ cũ”. Phân Mao là một quả núi ở đất Khâm Châu thì vẫn là cột đồng ở động Cổ Sâm.

Chắc Nguyễn Trãi đã chép theo mấy tài liệu sử mà Đào Duy Anh đã kể trong bài, không có gì khác.

Ngọ Phong họ Ngô (tức Ngô Thì Sĩ) trong một bài bàn viết ở Ức trai dị tập nói: “theo sách Minh thống chí, cột đồng dựng ở động Cổ Sâm thuộc châu Như Tích nước ta”.

Ở cuối chương XXV sách Ức Trai di tập có phụ chép: Mạc Đăng Dung cướp ngôi Lê, sai sứ giả sang nhà Minh xin quân tiếp viện và tự mình đến Nam Quan dâng sớ quy hàng và dâng hai châu Như Tích, Chiêm Lãng cho thuộc vào Khâm Châu.

Như vậy, cột đồng ở Khâm Châu được nói đến nhiều

Ngoài ra, lại có bài thơ Đường sau đây của Trương Vị đùa tặng quan thị ngự họ Đỗ dâng đồ cống vua, 2 câu đầu rằng:

Đồng trụ Chu Nhai đạo lộ nan,

Phục Ba Hoành Hải cựu đăng đàn.

(Đường đi tới cột đồng Chu Nhai khó khăn, nơi đây Phục Ba và Hoành Hải từng được phong tướng đi đánh dẹp).

Dưới bài thơ có lời chú giải: “Đồng trụ Mã Viện chinh Giao Chỉ sở lập, kim tại Quảng Đông Liêm Châu Phủ”. (Mã Viện dẹp yên Giao Chỉ rồi dựng cột đồng ở tỉnh Quảng Đông phủ Liêm Châu ngày nay) (xem Đường thi hợp tuyển tường giải Son Ân Lưu Văn Úy).

Lời chú giả kia có lẽ là của người biên tập hoặc của nhà xuất bản sách, chắc không phải của thi nhân. Đành rằng không có giá trị lịch sử đáng tin tưởng, nhưng ta không khỏi thắc mắc khi đọc trong các sách như vậy.

Để kết luận, chúng tôi tán đồng quan điểm của học giả Đào Duy Anh nhận định rằng: Cột đồng Mã Viện có lẽ đã dựng trên một quả đồi tên là Núi Thành hay núi Đồng Trụ các Vinh chừng 10 cây số về phái tây Nam.

Mặc dầu có một hai điểm có thể bàn cãi, thiết tưởng cũng khó mà nhận định khác được. Dù sao, sau này nếu có thể ngẫu nhiên tìm thấy cột đồng ở đất ta, ta vẫn có thể nghĩ rằng có thể có cột đồng khác, vì các tướng Trung Hoa có tục dựng cột đồng để kỉ công chiến thắng, như cột đồng ở phần chú giải bài thơ Trương Vị nói trên nếu có thật thì cũng không chắc gì là của Mã Viện dựng.

[1] Nguyên tác bằng chữ Pháp Les colonnes de bronse de Mã Viện trong Bulletin des Amis du Vieux Huế số 4 tháng 10-11 năm 1942.

[2] Phần lời tựa của người dịch.

[3] H. Maspero, L’espesdition de Ma-Yuan Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême Orient Tome XVIII n0 3-1918.

[4] Như trên.

[5] Xem ở sách của Maspero nhan đề những tác phẩm nói về cột đồng và thư tịch tham khảo.

[6] Lâm Ấp kí: Năm Kiến Vũ thứ hai, Mã Viện dựng hai cột đồng ở biên giới phía nam Tượng Lâm để phân ranh biên giới phía nam lãnh thổ Hán với xứ Tây đồ (mấy câu bỏ sót nơi đây). Thổ dân coi những người này là lưu đầy, gọi là Mã lưu. Họ tự nhận là dòng dõi Hán tộc (sách Thủy Kinh chú cũng chép như trên).

[7] Trong tạp chí Nam Phong số 127 năm thứ 12, ở phần chữ nho có bài viết (tác giả khuyết danh) tán đồng thuyết có cột đồng: “Có mấy người đã căn cứ vào sách Hán Thư và tiểu sử của mã Viện không thấy chép về cột đồng, bèn phủ nhận cho là không có. Luận cứ này không đúng. Mã Viện vốn tính ham thích có công trạng rực rỡ. Người ta biết được vậy do cái mộng viên lão tướng ấp ủ suốt đời là chết da ngựa bọc thây, tuổi già vãn còn hăng say. Được cử đi chinh phạt phương Nam, sau khi đã xâm chiếm được đất đai ở vùng này, Mã Viện chẳng thể không nghĩ đến việc dựng cột đồng để khoa trương những chiến công của mình. Sự tình này hẳn phải coi như không có. Sách Hán thư và tiểu sử Mã Viện không nói đến có thể vì Viện cho việc ấy là một vinh dự riêng không muốn kể để khoe, hoặc vì tác giả mấy sách kia đã quên, bỏ thiếu sót. Thời Tấn không xa cách nhiều thời Đông Hán, mà sách Tấn thư thì đã chép rõ ràng. Vả lại, đời Đường mã Tổng làm đô hộ nước ta đã dựng cột đồng ở chỗ cũ (?) để tưởng niệm cùng để thống hệ với Mã Viện.Vậy người ta có thể quả quyết rằng đã thực sự có cột đồng. Nếu không thì lẽ nào lại có người chơi nghịch bịa ra chuyện để lừa dối đời sau. Chúng tôi tin chắc rằng việc dựng cột đồng không phải là chuyện hoang đường”.

Trái lại, trong sách Việt sử cương mục giám khảo lược của Nguyễn Thông (sách viết tay, của tư gia, thời Tự Đức), Vũ Phạm Khải có phụ biên một đoạn đề xuất ý kiến coi là không có cột đồng.

[8] Bulletin des Amis du Vieux Huế năm 1937 : Bìa của M.Sogny viết về Đá Bia.

[9] Khâm định Việt sử thông giám cương mục.

[10] H.Maspero, sách đã dẫn; Nguyễn Văn Tố: Cột đồng Mã Viện trong Tạp chí Tri Tân, số 14.

[11] Khâm định Việt sử thông giám cương mục

[12] Thủy Kinh chú.

[13]H.Maspero, sách đã dẫn.

[14] Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême Orient số 9 quyển XIV năm 1914. Notes bibliographiques de L. Aurousseau sur le royaume du Champa bài của G. Maspero.

[15] H. Maspero, sách đã dẫn.

[16] Trong một bài viết riêng về nhận định vị trí quận Nhật Nam chúng tôi sẽ bàn cãi về sự nhận định của L. Aurouseau.

[17] Theo H. Le Breton, nay ở vùng An Tịnh còn có di tích thành trì Chăm trên Lam Giang ở miền hạ lưu, dưới Xa Nam, và cả ở đất Xuân Thủy gần phủ Kì Anh bây giờ. Vả lại, còn có những phiến đá dị hình đặt đứng trước mấy chính tẩm điện tháp, và việc tìm thấy một lò gốm Chăm trong khi lấp đất đắp nền trường Cao đẳng tiểu học Vinh là những chứng tích tỏ rõ xưa có người Chăm ở miền Bắc Trung Việt (Bulletin des Amis du Vieux Huế năm thứ 22, số 2 tháng 4-6 năm 1935: Le vieux An Tịnh (bài nối).

Lại còn vùng bắc Hà Tĩnh ở phía dưới cửa song Lam Giang, cửa song này có tên là Nam giới khẩu tục gọi Cửa Sót, trên nam ngạn, có hòn núi Nam giới son. Những tên cửa song, tên núi kia khiến cho ta nhận ra biên giới phía bắc nước Lâm Ấp có lúc đã mở rộng lên đến tận đấy.

[18] Người Trung Hoa xưa gọi những nước nhỏ ở bờ cõi phương đông là di. Sự thực thì Tây đồ ở tít dưới phía nam nước Trung Hoa (lời chú thích của người dịch).

[19] Tấn thư địa lý chí.

[20] Bulletin de l’Ecole Francaise d’E.O quyển XXIII năm 1923: La premiere conquete des pays annamites, bài của L. Aurousseau.

[21] Khâm định Việt Sử thông giám cương mục.

[22] Thái bình hoàn vũ kí: Nước Lâm Ấp xưa là huyện Lâm Ấp thuộc Tượng quận đời Tần ; đời Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam. Lời chép quyết chắc như vậy có nghĩa quận Nhật Nam và quận Tượng vẫn là một. Chúng tôi không công nhận thuyết này.

[23] Bulletin des Amis du Vieux Huế 1935 số 2, và 1936 số 2, 3, 4: Le Vieux Anh Tịnh. Bài của H. Le Breron.

[24] Xét vị trí Núi Thành về đường dụng binh và về địa lý thì thấy có thêm ý nghĩa để bênh vực ức thuyết của chúng tôi. Đời Trần Lâm Thành là lỵ sở miền Nghệ Tĩnh, Trương Phụ đóng quân ở Lâm Thành để chống nhau với quân ta ở Lam Giang và ở miền núi. Vị trí Lâm Thành quan trọng ở chỗ phần thì trấn giữ cả khúc song, phần thì là địa đầu của con đường từ miền núi ra, con đường này đã nhiều lần trong lịch sử là nơi dụng binh hiểm yếu. Trịnh Nguyễn giao tranh và chắc hẳn cả trong trận đánh giữa ta và Chăm, Lam Thành thường là tiền đồn của quân phía Bắc. Lê Khôi, đốc bộ Nghệ An đời Lê Thái Tông, đánh bại quân Chăm năm 1434 và Ông Ninh sức Trịnh Toàn, đốc bộ Nghệ An đời Lê Thần Tông, tính danh còn truyền với sử xanh, có hệ trọng với thành này. Ngày nay con đường đi Napé cũngDòng Tên Việt Nam như con đường mới Vinh-Hà Tĩnh đều đi qua gần Núi Thành. Lâm Thành xưa hẳn phải là nơi qua lại tất nhiên cho người Trung Hoa cũng như người Việt Nam tiến xuống đánh miền Nam, và cũng lại là chỗ quân đi chinh phục từ bắc xuống phải dừng lại nghỉ dưỡng sức và tăng cường lực lượng trước khi mạo hiểm tiến xuống xa. Ta có thể tin tưởng rằng Ma đã dừng quân nơi đây và cùng lúc ấy dựng cột đồng để đánh dấu biên giới; có thể Ma đã cho xây đắp thành nơi đây mà ngày nay không còn dấu vết gì cũng như cột đồng.

Nguồn :Dòng tên Việt Nam

Advertisements

One comment

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s