Đại thắng mùa Xuân … Những huyền thoại trên cả tuyệt vời

saoke

Kỷ niệm 40 năm đại thắng mùa Xuân ,  xin xem lại một số trong vô số  những “huyền thoại thần thánh  ” …. :) 


Nguồn:  Nữ dân quân ở ‘tọa độ chết’ bắn rơi máy bay Mĩ
Dùng súng trường K44 bắn rơi máy bay Mỹ, cô tự vệ Ngô Thị Hồng Thương ở ngã ba Đồng Lộc từng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khen ngợ

Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống dân quân tự vệ Việt Nam (28/3/1935), Bộ Tổng Tham mưu vừa tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Dân quân tự vệ Việt Nam – Lực lượng vô địch của dân tộc anh hùng”. Câu chuyện của hai nữ dân quân anh dũng có mặt tại hội thảo khiến nhiều người xúc động.

Bà Ngô Thị Hồng Thương. Ảnh: Duy Hồng.

Bà Ngô Thị Hồng Thương. Ảnh: Duy Hồng.

Từng công tác ở lâm trường khai thác rừng Cẩm Kỳ (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh), nay cư trú ở Thừa Thiên – Huế, bà Ngô Thị Hồng Thương được nhiều người biết đến với câu chuyện dùng súng trường bắn rơi máy bay F105 của Mỹ vào tháng 5/1968.

Năm 1968, bà là công nhân, chiến sĩ thuộc tiểu đội tự vệ của Đội tu bổ rừng lâm trường Cẩm Kỳ. Tổ của bà còn có thêm hai đồng đội là Nguyễn Thị Minh và Nguyễn Đình Bé, dùng chung một khẩu súng trường K44.

Đội được giao nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu bảo vệ tuyến đường 21 và 22 thuộc hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, nằm ở phía Nam “tọa độ chết” ngã ba Đồng Lộc. Địa bàn này nằm giữa hai tuyến đường giao thông chiến lược quan trọng mà lượng xe vận tải hàng hóa đi qua để chi viện cho chiến trường miền Nam.

Đội tự vệ của bà Thương được huấn luyện khá kỹ về đặc điểm, cấu tạo của từng loại máy bay Mỹ và cách tiêu diệt. Bà và đồng đội đã vác súng ra trường bắn tới tấp để dọa không cho máy bay địch hạ độ cao. Tuy có tác dụng nhưng khẩu súng trường khó gây nguy hiểm cho máy bay Mỹ.

Qua rất nhiều phiên canh trực, theo dõi, bà Thương phát hiện ra quy luật hoạt động là mỗi lần qua núi Thiên Nhẫn, máy bay Mỹ lại sà xuống rất thấp rồi bay dọc thung lũng theo đường cố định để tìm mục tiêu ném bom. Bà nghĩ nếu phục kích ở trong eo núi, chờ máy bay địch hạ thấp vào tầm bắn thì khẩu K44 có thể phát huy tác dụng.>Nghĩ là làm, trung tuần tháng 5/1968 bà và đồng đội đến một vị trí đã chọn trước ở bãi Hạ Nêu để đón lõng địch, gác nòng súng lên một chạc cây cụt làm điểm tựa. Khoảng 11h ngày 20/5/1968, có tiếng máy bay gầm rú. Một chiếc lao tới, bay rà rà dọc theo đường 21 tìm kiếm những xe của bộ đội ngụy trang 2 bên đường. Khi máy bay Mỹ bay lần thứ nhất, bà bắn nhưng trượt. Tên giặc trời vòng lại lần thứ hai, bay qua hẻm núi, bà bình tĩnh bắn 2 phát đạn. Từ đuôi máy bay có một dải khói đen phun ra xối xả. Chiếc máy bay lao được chừng 800 m nữa thì đâm sầm vào núi, một tiếng nổ dữ dội vang lên.

 

Ba nữ dân quân tham dự Hội thảo "Dân quân tự vệ Việt Nam - Lực lượng vô địch của dân tộc anh hùng". Ảnh: Duy Hồng.

Ba nữ dân quân tham dự Hội thảo “Dân quân tự vệ Việt Nam – Lực lượng vô địch của dân tộc anh hùng”. Ảnh: Duy Hồng.

Bà Thương xốc lại khẩu súng, cùng các bạn chạy băng băng trên những vạt rừng để bám theo chiếc dù vừa bung khỏi máy bay.  Tổ 3 người của bà tiến sát nơi chiếc dù vừa tiếp đất và bắt sống viên phi công.

“Mặc cho máy bay địch quần thảo và bắn rốc két xung quanh khu vực nhưng mọi người vẫn không rời tên phi công. Trong lúc đồng đội đang cắt dây dù để trói phi công lại, tôi phát hiện một chiếc máy vô tuyến đang chạy rè rè, liền đập nát nó. Cùng lúc đó, rất đông thanh niên xung phong và người dân chạy tới, hỗ trợ áp giải phi công Mỹ về đơn vị”, bà Thương nhớ lại
Tháng 4/2004, bà Thương vinh dự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đón tiếp và khen ngợi bởi chiến công dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ.

Bà Phạm Thị Viễn. Ảnh: Duy Hồng.

Bà Phạm Thị Viễn. Ảnh: Duy Hồng.

Giọng nghẹn ngào, bà Phạm Thị Viễn (phường Tương Mai, Hoàng Mai, Hà Nội) tâm sự, năm 1967 khi mới 17 tuổi, bà làm công nhân Nhà máy cơ khí Mai Động. Bà bị thương ở cổ trong một trận ném bom của Mỹ xuống làng Tương Mai khi đang đi sửa nhà cho một người bạn. Hai ngày sau, được người nhà tìm thấy trong bệnh viện là lúc bà biết tin mẹ mình đã mất cũng vì trận bom hôm trước khi đang đi bán rau.

Anh trai chiến đấu ở chiến trường xa, bà vừa đi làm vừa phụ bố nuôi 5 đứa em thơ. Cũng như nhiều công nhân thời chiến, bà tham gia lực lượng tự vệ tập trung của Nhà máy cơ khí Mai Động. Đơn vị được cấp khẩu súng phòng không 14,5 ly với nhiệm vụ bảo vệ nhà máy và phối hợp với hỏa lực của các đơn vị pháo phòng không gần đó.

 

Từ ngày 18 đến 21/12/1972, máy bay B52 đánh bom Hà Nội. Với loại máy bay này thì khẩu 14,5 ly của đơn vị không làm được gì. Ban ngày máy bay quấy phá liên tục, gây căng thẳng cho nhân dân và lực lượng pháo phòng không. Bà Viễn cùng đồng đội thay nhau tiếp đạn cho đơn vị pháo 100 ly ở gần trận địa 14,5 ly. Có một điều kỳ lạ mà cho đến bây giờ bà vẫn chưa lý giải được, là khi đó mình mảnh khảnh, sức khỏe không tốt, vậy mà vác quả đạn 100 ly nặng gần 40 kg cứ đi băng băng.

Bà Viễn kể, ngày 22/12/1972, đơn vị của bà được lệnh chuyển từ Mai Động ra Vân Đồn, được bố trí 5 khẩu 14,5 ly dưới sự chỉ huy của đại úy Hoàng Minh Giám. Sau khi làm công tác chuẩn bị như lau chùi, cân chỉnh súng, cắm cọc phương vị… lực lượng tự vệ được giao nhiệm vụ đón lõng ở góc phương vị 14.
“Tới xẩm tối, máy bay Mỹ đánh vào Bệnh viện Bạch Mai, Văn Điển, Giáp Bát… 21h còi báo động rú vang, máy bay địch xuất hiện, chúng bay thấp dọc theo sông Hồng đúng hướng chúng tôi đã lõng. Trời cuối tháng 12 tối như bưng, nhưng chúng tôi vẫn nhìn thấy chiếc máy bay vút qua đầu, đuôi lóe sáng. Lệnh của đại úy Giám lúc ấy rất dõng dạc và đanh: Điểm xạ ngắn – Bắn. Tình huống diễn ra quá nhanh, chúng tôi chỉ kịp bắn một loạt”, bà Viễn kề
30 phút sau, Bộ Tư lệnh thủ đô thông báo: Chiếc F111 bay theo hướng 14 bị bắn rơi tại chỗ. Bà cùng đồng đội ôm nhau reo hò mà nước mắt cứ giàn giụa. Đêm đó trận địa của bà không ai chợp mắt được. Những ngày sau đó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến tặng hoa chúc mừng đơn vị

 

Nguồn : Huyền thoại tay không “quật ngã” trực thăng UH–1 của Mỹ
Nhớ lại trận đánh mà ông tham gia cùng các đơn vị ở Đoàn pháo binh 575 vào tháng 8/1972, ông không khỏi tự hào rằng mình là một trong những người được góp một phần nhỏ công lao vào chiến thắng giòn giã ấy.

Ông rưng rưng nước mắt: “Các cậu ấy không được thấy ngày độc lập, không được sống những ngày không có tiếng bom đạn. Nhiều người vẫn đã ngã xuống vẫn nằm lại giữa núi rừng lạnh lẽo, chưa tìm thấy mộ phần. Chưa tìm được các anh, tôi sao yên lòng mà nhắm mắt được”.

Năm 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, từ biệt quê hương Tân Dương (Thủy Nguyên, TP.Hải Phòng), ông khoác ba lô lên đường nhập ngũ, chiến đấu tại mặt trận 44 Quảng – Đà (Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay).

Hơn 15 năm cầm súng chinh chiến dọc một dãi chiến trường miền trung, ông đã lập nên những kỳ tích huyền thoại khi hạ một mình hơn 8 chiếc máy bay UH – 1 và hàng chục xe tăng, thiết giáp của Mỹ ngụy.

Đất nước giải phóng, dù bận rộn với cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn, nhưng người cựu binh năm nào vẫn còn đau đáu một nỗi lòng với những người đồng đội đang nằm lại nơi rừng xanh, núi cao chưa tìm thấy hài cốt.

Từ năm 1990 đến nay, ông đã thực hiện hàng trăm chuyến băng rừng, vượt suối về lại chiến trường xưa để tìm kiếm, cất bốc mộ đồng đội.

Người cựu binh nặng lòng với quá vãng ấy là ông Bùi Minh Kiểm (SN 1942, trú tại đường số 5, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng), một “địa chỉ đỏ” trong hành trình đi tìm mộ liệt sĩ của thân nhân những người lính ngã xuống trên chiến trường Quảng – Đà.

Căn nhà nhỏ nằm khuất sau con hẻm bỗng trở nên vui nhộn hơn thường ngày bởi tiếng cười nói của những người khách, cán bộ phường đến thăm.Sau nhiều lần tìm đến nhà, cuối cùng, chúng tôi cũng gặp được ông vừa trở về sau chuyến đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở khu vực rừng núi Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam).

Nhìn người đàn ông tuổi ngoài lục tuần, thân hình nhỏ nhắn nhưng rắn chắc, khỏe mạnh, ít ai biết được rằng ông đã từng dùng đôi bàn tay ấy để ghì chặt một chiếc máy bay UH – 1 của Mỹ xuống mặt đất.

Dẫn chúng tôi lên căn phòng chất đầy những kỷ vật một thời lửa đạn như: bi đông nước, ba lô con cóc, dép cao su…, ông kể: “Gia đình tôi có 4 anh em trai thì hết 3 người xung vào quân đội, 4 chị em gái cũng lần lượt vào thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tiếp tế cho chiến trường lớn miền Nam.

Riêng tôi con út nên được ở nhà, miển nghĩa vụ quân sự Nhưng đất nước đang chiến tranh, giặc giã, bạn bè cùng trang lứa đã xếp bút nghiêng lên đường, mình ở nhà sao được?”.

Mặc cho gia đình can ngăn, ông vẫn viết đơn nhập ngũ và xin vào chiến đấu ở mặt trận Quảng – Đà, một trong những mặt trận ác liệt nhất lúc bấy giờ.

Sau gần nửa năm huấn luyện trong gian khổ, ông được biên chế vào đơn vị 91 Đặc công (thuộc Quân khu V), thực hiện các nhiệm vụ đánh “thọc” sâu bên trong lòng địch, bảo vệ các cứ điểm quan trọng.

Với một người lính trẻ vừa kết thúc mấy tháng quân trường, đó bước thử thách khắc nghiệt, khó khăn. Trải qua những trận đánh ác liệt, có những lúc đối diện với cái chết trong gang tấc đã hun đúc tinh thần người lính trẻ.

Sự ác liệt của chiến tranh, sự hy sinh mất mát của nhiều đồng đội, cũng không thể khiến ông khuất phục.

Trong đời binh nghiệp của mình, ông nhớ nhất là trận đánh “không ngang sức” với kẻ thù, buộc ông phải gieo mình xuống sông để tránh bị rơi vào tay kẻ thù. Nhắc lại chuyện xưa, trong đôi mắt của người lính già ngấn lệ, hồi tưởng về một thời máu lửa đã qua.

Ông kể, đó là vào khoảng 9 giờ một ngày tháng 4/1968, khi đơn vị của ông gồm 4 người (thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 140 – Bộ Quốc phòng) đang đào hầm trên bãi cát gần bờ sông Vu Gia (thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam – PV) để bảo vệ một điểm trung chuyển đạn dược phục vụ mặt trận Quảng – Đà.

Trong lúc 4 người đang đào công sự thì địch sử dụng máy bay do thám phát hiện. Chỉ khoảng một giờ sau, hàng chục chiếc trực thăng của địch bất ngờ đổ bộ xuống vị trí cách đơn vị ông chưa đến 20 mét.

Trước khi đưa lính tới càn, bọn chúng đã cho pháo tập kích, dập tả tơi quanh khu vực bán kinh 1km trở lại. Trận pháo kích dữ dội đã làm 2 chiến sĩ của đơn vị trúng đạn, hy sinh.

Biết địch chắc chắn sẽ cho quân càn tới để tiêu dịch cứ điểm quan trọng này nên ông và đồng đội Nguyễn Phú Thao (ngụ TP.Hải Phòng) quyết một phen sống mãi với quân thù.

Ngoài hai khẩu AK, ba quả lựu đạn và một số ít cơ số đạn còn lại, hai người phải chống chọi với một tiểu đoàn trực thăng biệt động 37 của ngụy cùng hơn 150 lính biệt kích, có sự yểm trợ của pháo binh địch.

“Lúc này, hai anh em chúng tôi chỉ liếc mắt nhìn nhau rồi lặng lẽ tiến vào công sự, đạn đã lên nòng và lựu đạn cũng sẵn sàng rút chốt. Không ai nói một lời, nín thở chờ tụi biệt kích tiến vào tầm ngắn. Tụi nó sục sạo khắp nơi và khi đến gần phía bờ sông thì chúng tôi nhả đạn” – ông Kiểm nhớ lại.

Gặp chốt chống cự, địch nhanh chóng tản ra tạo thành thế gọng kìm để bao vây hai người vào giữa. Nhưng những loạt đạn AK tạo ra vành đai lửa khiến địch không thể tiến lên.

Sau ba giờ cầm chân địch, ông bị thương ở tay và đầu, máu chảy ra nhiều nhưng vẫn kiên trì cầm súng bắn ngăn địch tiếp cận công sự. Giữa lúc cuộc giằng co đang diễn ra ác liệt thì địch huy động trực thăng bắn róc két, pháo kích lần hai.

“Quân địch sợ bị rơi vào điểm phục kích nên không dám tiến lên mà chỉ dùng hỏa lực tấn công từ xa. Nhưng nguy hiểm nhất là các trực thăng liên tục quần thảo trên đầu, súng máy và AK không thể xuyên thủng lớp thép phía dưới bụng máy bay” ông Kiếm kể.Quân Mỹ – ngụy tưởng rằng, chúng đang đụng độ với một đơn vị bộ đội của ta nên tiếp tục cho quân đổ bộ và tăng cường hỏa lực trấn áp.

Giữa lúc “dầu sôi, lửa bỏng” ấy, đồng đội của ông Kiểm, tức ông cùng Nguyễn Phú Thao đã đưa ra một cách đánh táo bạo. Khi chiếc UH – 1 rà tới chuẩn bị hạ thấp để bắn róc két thì ông Kiểm lao người lên dùng hai tay ghì càng máy bay xuống.

Đôi bàn tay thép như chiếc nam châm hút chiếc UH – 1 xuống gần sát mặt đất. Viên phi công bất ngờ, chưa kịp gạt cần súng máy thì đã bị anh Thao từ bên dưới bắn thốc lên, thẳng vào buồng lái. Chiếc máy bay mất thăng bằng loạng choạng lao xuống, nổ tan xác.

Tiếng nổ của chiếc UH – 1 đầu tiên đã khiến phía địch hoảng loạn, gọi cầu viện. Đến trưa cùng ngày, ông Kiểm và đồng đội vẫn giữ vững cứ điểm, không để địch tiến về phía bờ sông.

Đợt pháo kích thứ ba của địch vừa dứt thì ba chiếc trực thăng UH – 1 hạ cánh xuống khu vực chiếc trực thăng bị rơi để tìm kiếm xác. Lợi dụng cơ hội này, hai người trườn tới vị trí thuận lợi để bắn hạ ba con “chim sắt”.

Ông Kiểm hồi ức như mới vừa xảy ra đây “Trong khi anh Thao lên đạn súng máy thì tôi chạy thắng tới đuôi chiếc máy bay rút chốt lựu đạn quăng vào buồng lái.

Chiếc thứ nhất nổ tan tành khiến hai chiếc kia hoảng sợ cất cánh bỏ chạy, nhưng đã bị lưới đạn của anh Thao nhả xuống, hai chiếc còn lại cũng bị hạ nốt”.

Đến cuối giờ chiều, hai khẩu súng đã gần hết đạn, không thể tiếp tục chống cự thêm. “Lúc đó hai tai tôi đã lãng đi vì tiếng nổ, đầu nhức, mắt mờ. Anh Thao cũng bị thương chảy máu khá nhiều. Hai chúng tôi hi vọng sẽ cầm cự đến được chiều tối, bọn địch sẽ phải rút lui, hoặc phía quân ta sẽ bổ sung lực lượng cứu viện” – ông Kiểm kể.

Khi phát hiện hỏa lực phía ta bị suy giảm, địch bắt đầu cho quân tiến lên, quyết tâm bắt sống ổ kháng cự. Hai người vừa chiến đấu vừa tìm cách bò ra mép sông để tìm cơ hội thoát khỏi sự truy kích và đánh lạc hướng quân địch.

Nhưng cả hai chưa bò ra đến nơi thì ông Thao trúng mảnh pháo xuyên qua đầu, hy sinh. Lúc đó, ông Kiểm nghĩ mình cũng sẽ chết vì chỉ còn lại ba viên đạn trong băng. Ông cố lôi xác đồng đội ra sông để cả hai cùng thả trôi theo dòng nước, không phải chết trong tay quân Mỹ – ngụy.

Lê chút sức tàn ra tới sông, ông Kiểm thả mình xuống dòng nước bất tỉnh. Trôi theo dòng nước gần 6 km, sóng đánh ông tấp vào bờ. Tưởng chừng như đã nắm chắc cái chết, nhưng ông Kiểm được người dân trong vùng vớt lên, cứu sống.

Kể đến đây, ông Kiểm quay sang nhìn tấm di ảnh của ông Thao treo trang trọng trong nhà và ông xúc động:

“Đến bây giờ, tôi cũng không nghĩ là mình may mắn còn sống. Cả đơn vị tôi hôm ấy đã hy sinh gần hết, chỉ còn lại tôi. Bà con đã nuôi dấu tôi hơn 2 tuần cho hồi phục rồi tìm đường trở lại đơn vị chiến đấu”.

Sau trận ấy, ông được đơn vị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đó xem như là phần thưởng cho lòng dũng cảm, kiên trung của người lính trẻ năm nào. Trở về đơn vị, ông và đồng đội lại bước vào những trận chiến gian khổ và khốc liệt hơn.

Năm 1970, ông chuyển về công tác, chiến đấu và giữ chức vụ Chính trị viên Đại đội 11, Đoàn pháo binh 575. Cuối năm 1971, ông được đơn vị giao nhiệm vụ trinh sát, đặt đài quan sát trên đỉnh Bà Nà – Núi Chúa để theo dõi tình hình hoạt động của địch ở sân bay Đà Nẵng.

Nhớ lại trận đánh mà ông tham gia cùng các đơn vị ở Đoàn pháo binh 575 vào tháng 8/1972, ông không khỏi tự hào rằng mình là một trong những người được góp một phần nhỏ công lao vào chiến thắng giòn giã ấy.

Trước đó, công tác chuẩn bị cho trận đánh “lịch sử” đã được lãnh đạo thống nhất phương án. Táo bạo và bất ngờ, các trận địa pháo của Đoàn 575 đặt tại trận địa Hòa Bình (Hòa Vang, TP.Đà Nẵng) và Điện Sơn (Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) phát hỏa lúc 5 giờ 35 ngày 2/8, ngay trước mũi hành quân tìm diệt của địch (cách trận địa Hòa Bình chỉ vài trăm mét).

80 viên hỏa tiễn “tìm” đúng mục tiêu, phá hủy 57 máy bay, diệt 147 tên Mỹ hầu hết là sĩ quan, giặc lái, kho xăng trong sân bay bốc cháy dữ dội 5 giờ liền, nhiều phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy. Trận đánh để đời của Đoàn 575 đã làm giặc Mỹ ngớ ra không kịp đối phó…

Lật giở tấm bản ghi thành tích chiến đấu của đơn vị năm nào, ông cười tự hào, “Gần 10 năm (1966-1975), Đoàn pháo binh 575 đã đánh hơn 500 trận, tiêu diệt 6.000 tên địch với hàng ngàn sĩ quan, phá hủy 780 máy bay, 1.000 xe quân sự, 200 khẩu pháo các loại, thiêu cháy 50 triệu lít xăng dầu và rất nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ.

Đơn vị được tặng 10 Huân chương Quân công, hàng trăm Huân chương Chiến công, được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 31/3/1973…”.

Trong thời gian 1964-1975, với những thành tích xuất sắc đã đạt được, ông Kiểm được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công, 4 danh hiệu Dũng sĩ (diệt Mỹ, diệt ngụy, diệt máy bay, diệt xe cơ giới), 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng, 1 Huân chương Kháng chiến và 31 bằng khen, giấy khen các loại…

Cuộc trò chuyện bỗng trầm xuống khi chúng tôi nhắc đến những chiến thắng, ông rưng rưng nước mắt:

“Các cậu ấy không được thấy ngày độc lập, không được sống những ngày không có tiếng bom đạn. Nhiều người vẫn đã ngã xuống vẫn nằm lại giữa núi rừng lạnh lẽo, chưa tìm thấy mộ phần. Chưa tìm được các anh, tôi sao yên lòng mà nhắm mắt được”.

Nguồn : Người anh hùng một mình hạ 31 tên địch :

Giờ trong người ông vẫn còn 15 mảnh đạn, 13 mảnh nhỏ li ti và hai mảnh to như hạt lạc nằm trên đầu và bên đùi chân trái. Trò chuyện với chúng tôi, ông vẫn đùa mấy mảnh đạn đó là “vàng của Mỹ, người ta cất trong người đó”…

 Tháng tư, “cánh của thép”, năm xưa, Quảng Bình, mảnh đạn Ông Phạm Văn Lái

Ông Phạm Văn Lái

Ông là Phạm Văn Lái (SN 1952), quê ở xã Quảng Châu, huyện Quảng Trạch (Quảng Bình). Người anh hùng mưa trí, dũng cảm tiêu diệt 31 tên địch trong trận “cánh của thép” Xuân Lộc, mở màn cho chiến thắng Hồ Chí Minh lịch sử.

Ông được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi vừa 25 tuổi.

Khi vừa tròn đôi mươi, chứng kiến cảnh đất nước chìm trong bom đạn, chàng thanh niên Phạm Văn Lái đã có lòng căm thù giặc sâu sắc và ý thức được việc cầm súng đứng lên bảo vệ đất nước.Một mình tiêu diệt 31 tên địch

Tháng 5/1972, ông đã viết đơn tình nguyện xin nhập ngũ ở đơn vị C3D3 Công binh phà Gianh (Quảng Bình).

Sau một thời gian thử thách, đến tháng 10/1973, ông được chuyển qua làm chiến sĩ liên lạc ở đơn vị bộ binh C9D9- E266, Sư đoàn 341 (Sư đoàn Sông Lam) thuộc Quân đoàn 4.

“Chiến trường miền Nam ngày càng ác liệt, tôi và đồng đội đã được quán triệt: “Đi lâu, đi sâu, đi xa, đi đến ngày đất nước thắng lợi mới về”. Sau một tháng hành quân ròng rã, đơn vị chúng tôi đã vào đến khu D để chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu lâu dài”, ông kể.

Là nơi “tử thủ” của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ nên Xuân Lộc (Đồng Nai) được địch chốt chặn bởi những phương tiện kĩ thuật, vũ khí hiện đại và lực lượng hùng mạnh nhất gồm Sư đoàn 18 và một số tiểu đoàn bảo an, cảnh sát phòng ngự…

Để mở đường cho quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, lực lượng của ta phải tạo quả đấm mạnh mẽ, mở toang “cánh cửa thép” kiên cố này. Trong trận này, mỗi chiến sỹ được cấp 4 bơ gạo rang (gạo ngâm nước rồi rang), 1 gói lương khô cùng vũ khí…

Là chiến sĩ liên lạc nên ngay từ 16h chiều 9/4, ông đã đi trước để nắm tình hình, 3h sáng ngày 10 ông trở về đơn vị báo cáo.

4h sáng ngày 10, các mũi của quân ta bắt đầu tiến công với nhiệm vụ đánh chiếm Dinh tỉnh trưởng, Tổng Nha cảnh sát địch.

Ngôi nhà nhỏ của người anh hùng

Ngôi nhà nhỏ của người anh hùng

“Sáng ngày 10/4, tôi cùng Đại đội phó Đặng Xuân Dần và 3 chiến sỹ Trúc, Toại, Hà hình thành một mũi đánh vào một đoạn chiến hào của địch. Đánh đến trưa, lúc hai bên giáp lá cà, giành nhau từng căn nhà, tấc đất… Tôi đã đề nghị bí mật đánh úp sau lưng địch.

Bị đánh bất ngờ, bọn địch bỏ chạy nhưng khoảng 1 tiếng sau, địch tăng thêm quân viện trợ tập kích rồi huy động bom, pháo đánh trả. Đang lúc ầm ầm tiếng súng, tiếng bom và sức ép, tôi không nghe thấy ta có lệnh tạm rút lui để tránh thiệt hại nên vẫn tiếp tục bám chốt”, ông nhớ lại.

Còn một mình với khẩu AK hết đạn, ông xác định: “Còn một mình cũng đánh, tìm súng địch mà đánh”. Dù bị một viên đạn AR15 của địch bắn sướt ngang qua trán, máu chảy đầm đìa nhưng ông không hề cảm thấy đau.

Đến cuối ngày, một tổ trinh sát của ta mới phát hiện được ông đang bị thương nhưng vẫn không rời vị trí chiến đấu.

Trong trận đó, ông đã tiêu diệt 31 tên lính, góp phần mở bức tường thép Xuân Lộc, tiến vào giải phóng miền Nam.

Hai lần anh hùng

Một năm sau, vào ngày 20/10/1976, ông đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi đất nước đã liền một dải, ông lại tiếp tục sang Cam-Pu-Chia làm nhiệm vụ quốc tế. Sau khi bị thương ở chân, ông được đưa về tuyến sau và phục viên trở lại quê nhà.

Năm 1980, ông lập gia đình với bà Lê Thị Thuyết, hai ông bà có với nhau 5 người con, ngày ngày chăm chỉ làm lụng nuôi các con khôn lớn.

“Cách đây 8 năm, ông ấy đau nặng nên gia đình đưa đi viện, bác sĩ chẩn đoán ông bị ung thư dạ dày. Từ đó đến nay, ông ấy đã phải phẫu thuật cắt bỏ 4/5 dạ dày, 7 lần chuyền hóa chất rồi do biến chứng lại phải cắt luôn túi mật”, bà Thuyết nói.

Mặc dù mang trong mình bệnh tật nhưng ông vẫn rất lạc quan, vui vẻ. Trò chuyện với chúng tôi ông cười xòa, ‘mình đánh trận không chết thì bệnh tật là cái chi, nên cứ vui mà sống thôi’.

“Lúc trước, bác sĩ bảo tôi chỉ có thể sống chừng 6 tháng đến một năm nhưng cũng có thể nhờ tinh thần lạc quan mà tôi đã vượt qua tất cả. Giờ đây, hằng ngày tôi ăn từ 6 đến 10 bữa cháo mỗi ngày, mỗi bữa khoảng một muôi nhỏ”, ông chia sẻ.

Không chỉ là anh hùng trong kháng chiến, giờ đây ông còn là anh hùng khi ‘chiến thắng’ được căn bệnh hiểm nghèo. Con cái đứa đã thành gia thất, đứa đã có nghề nghiệp, riêng đứa con trai út học xong đại học vẫn chưa xin được việc làm ông canh cánh.

Nguồn : ĐẶC CÔNG VIỆT NAM ĐÁNH B52 NGAY TẠI SÀO HUYỆT UTAPAO CỦA MỸ BÊN THÁI LAN 1972

Không gì là không thể làm được KHÂM PHỤC CÁC ANH

Đã có nhiều trận đánh và những chiến công được nói đến. Riêng trận tập kích sân bay Utapao (Thái Lan) lâu nay rơi vào im lặng. Utapao là căn cứ không quân rất lớn của Mỹ tại Thái Lan hồi đó, và đây cũng là cũng là sân bay duy nhất ở Đông Nam Á mà máy bay chiến lược B.52 có thể hạ, cất cánh. Máy bay B.52 của Mỹ thường xuất phát từ nơi đây và đảo Guam để ném bom miền Bắc nước ta. Chính phủ ta ngày ấy từng ra tuyên bố: địch xuất phát từ đâu, ta có quyền đánh trả ngay nơi sào huyệt của chúng. Dựa vào tuyên bố ấy và trên cơ sở phân tích tin tình báo chiến lược, phán đoán đúng ý đồ của Mỹ, tháng 10/1972, Bộ Tư lệnh Đặc công giao cho thượng tá Nguyễn Đức Trúng, Tham mưu trưởng binh chủng, nghiên cứu và chuẩn bị phương án đánh thẳng vào căn cứ máy bay B.52 của Mỹ, khi chúng tăng cường ném bom thủ đô Hà Nội. 

Khó khăn nhất là sân bay Utapao ở sâu trong nội địa Thái Lan, việc đảm bảo hậu cần hầu như không thực hiện được. Lúc đầu, bộ tư lệnh đề nghị cấp trên cho sử dụng đường dây Việt kiều. Ban Bí thư và Quân ủy điện trả lời tuyệt đối cấm sử dụng lực lượng này. Một tổ đặc công đánh xa có 3 người được chọn. Trong đó, hai chiến sĩ Lại và Phương vốn là hai Việt kiều Thái hồi hương về miền Bắc, thông thạo địa hình, nói sõi tiếng Thái. Một biệt đội hơn ba chục người đi theo làm nhiệm vụ yểm trợ. Đoàn đã lập trạm chỉ huy ở khu rừng Đôn Ka Thom nằm ở ngã ba biên giới Thái Lan – Lào – Campuchia. Đây là khu rừng nguyên sinh cây cao ba tầng, quanh năm không thấy ánh mặt trời. Từ đây, các tổ tiền tiêu được phái đi trinh sát 14 lần dọc theo dãy núi Prếch Vihia. Có một sáng kiến được đưa ra. Đó là dùng kỹ thuật ém lương thực theo kiểu sâu đo. Ba chiến sĩ mỗi người mang 32 kg lương khô, đến vị trí A để lại 10 kg, chôn kỹ và đánh dấu rồi quay về. Cứ thế từng chuyến lương khô được chuyển đến vị trí B, C, D… suốt chặng đường dài. Cần nói rõ lương thực là điều kiện sống còn của người lính đặc công, cả trên đường đi đến mục tiêu cũng như khi quay về.

Vấn đề còn lại là phương tiện liên lạc để nhận lệnh tiến công đúng thời điểm. Các chiến sĩ đặc công không thể đem điện đài, vì sẽ ảnh hưởng tới khối lượng chất nổ cần thiết phải mang theo. Đoàn trưởng liền hạ lệnh: mang theo máy radio để nghe tin tức, khi nào nghe tin đài BBC hay VOA đưa tin B.52 đang đánh dồn dập Hà Nội, lúc ấy được quyền khai hỏa. Ba chiến sĩ đặc công của ta, một bảo vệ bên ngoài để hai người xâm nhập tận trong sào huyệt, sờ mó tận tay từng chiếc B.52. Đúng lúc cao điểm 12 ngày đêm Mỹ đánh phá Hà Nội, chiến sĩ đặc công điểm hỏa đánh cháy 6 chiếc, phá hỏng 2 chiếc. Vậy là có 8 chiếc B.52 bị loại khỏi vòng chiến đấu, không còn cơ hội ngang dọc trên bầu trời miền Bắc gây tội ác nữa. Ngày hôm sau, các hãng thông tấn phương Tây đã đưa tin, bình luận. Mỹ đã thật sự hoảng hốt, chúng không ngờ ta với tay xa và phối hợp ăn ý đến như vậy. Qua đài kỹ thuật (bí mật), chúng trao đổi với nhau mà không hiểu điều gì đã xảy ra. Lúc ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe tin liền điện hỏi Bộ Tư lệnh Đặc công, bộ tư lệnh vội điện hỏi trạm chỉ huy. Sau này nghe thượng tá Nguyễn Đức Trúng báo cáo lại đầy đủ chi tiết, đại tướng không ngớt lời khen ngợi.

Xem thêm: Thông tin về căn cứ Utapao , Hoa Kỳ chỉ nói phớt qua về biến cố này ! ( Phụ chú của ovv )
Nguồn: Chiến công quả cảm của anh hùng không quân Vũ Xuân Thiều

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều trước đây là một học sinh Trường phổ thông Chu Văn An, niên khóa 1959-1962. Bản chất hiền lành, giản dị, học giỏi, hay giúp đỡ bạn nên Vũ Xuân Thiều được mọi người quý mến. Tốt nghiệp trung học, Thiều trúng tuyển vào học khóa 7, ngành Vô tuyến điện Trường đại học Bách khoa. Khi đang chuẩn bị làm luận án tốt nghiệp, anh tình nguyện nhập ngũ, được tuyển chọn vào Binh chủng Không quân, được cử đi học lái máy bay MIG-21 ở Liên Xô trước đây từ giữa năm 1965.

Đang học bay bên nước bạn, Thiều được tin, giặc Mỹ đã dùng máy bay B-52 đánh bom miền Bắc Việt Nam ở đèo Mụ Giạ, Quảng Bình từ ngày 12 tháng 4 năm 1966. Các đồng chí Phùng Thế Tài, Đặng Tính, Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng Phòng không-Không quân khi gặp Bác Hồ đã hứa với Người, “cán bộ, chiến sĩ quân chủng quyết tâm vượt qua mọi khó khăn đánh thắng B-52”.

Các phi công Việt Nam cùng khóa học với Thiều, ai nấy đều thể hiện quyết tâm học bay thật tốt để nhanh chóng về nước chiến đấu, tiêu diệt nhiều máy bay địch, tìm cách đánh thắng được B-52 Mỹ.

Năm 1968 tốt nghiệp về nước, Thiều nhận nhiệm vụ chiến đấu tại Trung đoàn 921. Sau một thời gian, anh cùng các phi công Vũ Đình Rạng, Đinh Tôn… được điều về phi đội 5 huấn luyện bay và chiến đấu ban đêm.

Thời gian này, máy bay B-52 Mỹ liên tục ném bom rải thảm trên đường mòn Hồ Chí Minh nhằm ngăn chặn những hoạt động vận tải của binh đoàn 559 chi viện chiến đấu cho miền Nam. Cuối năm 1971, một số sĩ quan không quân được cử đến Quảng Bình, Vĩnh Linh nghiên cứu hoạt động chiến đấu của máy bay B-52. Một số đơn vị ra-đa cũng được điều đến đây nhằm bảo đảm cho các đơn vị phòng không, không quân chiến đấu đánh B-52 Mỹ.

Hồi 19 giờ ngày 4-10-1971, phi công Đinh Tôn nhận lệnh xuất kích đánh một tốp B-52 nhưng vì máy bay địch quay lại Thái Lan nên MIG – 21 của Đinh Tôn không được đánh B-52 địch lần ấy.

Đêm 20-11-1971, được thông báo có B-52, Vũ Đình Rạng nhận lệnh xuất kích từ sân bay Anh Sơn, phóng tên lửa trúng chiếc B-52 Mỹ do phi công Kalp Wetter Haln điều khiển.

Chiếc B-52 không rơi tại chỗ nhưng bị hỏng phải hạ cánh xuống sân bay Nakhon Phanomb ở Thái Lan, sau đó phải tháo rời đưa về Utapao.

Cuối tháng 12 năm 1972, Kalp Wetter Haln bay trên một B-52 khác, bị tên lửa ta bắn rơi tại Hà Nội, bị bắt làm tù binh đã khai với ta trường hợp B-52 của Kalp bị MIG-21 của Vũ Đình Rạng bắn rơi.

Ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn thông qua kế hoạch dùng máy bay B-52 đánh Hà Nội và Hải Phòng. Từ 18-12, Mỹ bắt đầu chiến dịch tập kích đường không đánh phá Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố trên miền Bắc. Tối 27-12-1972, các phi công trực chiến đấu được thông báo có B-52 từ Mộc Châu đến. Lúc 22 giờ 30 phút, phi công Phạm Tuân nhận lệnh cất cánh từ sân bay Yên Bái, phát hiện mục tiêu, đã tăng tốc độ đạt 1.200km/g, bay lên độ cao 10.000m, phóng 2 tên lửa ở cự ly 2.000m, tiêu diệt chiếc B-52 số 2 rồi vòng gấp sang trái, hạ cánh an toàn xuống sân bay Yên Bái.

Rút kinh nghiệm đánh B-52 của phi công Vũ Đình Rạng và Phạm Tuân, thực hiện quyết tâm: “Bắn rơi B-52, bắt sống phi công B52 Mỹ”, Thượng úy phi công Vũ Xuân Thiều báo cáo với trung đoàn trưởng:

  • Lần sau khi phát hiện B-52, xin phép cho tôi được xuất kích tiêu diệt. Bắn mà B-52 không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó!

Và rồi cuối cùng, anh đã thực hiện được mơ ước cao đẹp ấy của mình.

Đêm 28-12-1972, được thông báo có B-52, Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích từ sân bay Cẩm Thủy. Lúc này nhiều sĩ quan cao cấp của quân chủng như Đào Đình Luyện, Trần Mạnh, Trần Hanh… đã có mặt tại Sở chỉ huy mặt đất. Anh Lê Thiết Hùng dẫn đường bay, hướng dẫn Vũ Xuân Thiều tiếp cận B-52 địch ở độ cao 10.000m. Thiều báo cáo về Sở chỉ huy mặt đất:

  • Hồng Hà (mật danh Sở chỉ huy). Sao Mai (mật danh MIG của Thiều) đã thấy rõ Mây Đen (mật danh B- 52). Mây Đen bắt đầu thả khói vàng.
  • Sao Mai. Tiếp cận công kích.

  • Hồng Hà. Sao Mai đã công kích. Mây Đen chỉ bị thương. Sao Mai xin công kích lần 2. Quyết tiêu diệt Mây Đen.

  • Sao Mai! Sao Mai!… Sao Mai! Sao Mai!…

  • Không có tín hiệu trả lời. Ra-đa cũng mất tín hiệu.

Lúc này là 21 giờ 45 phút ngày 28-12-1972.

Hôm sau, tỉnh đội Sơn La báo cáo: Đêm qua có một máy bay B-52 bị cháy rơi, một MIG-21 cũng rơi gần đó trên cánh đồng xã Tạ Khoa, Yên Châu, Sơn La. Một số phi công trong phi đội bay đêm nhận lệnh đến ngay Tạ Khoa, tìm đến khu vực chiếc B-52 Mỹ bị cháy rơi. Chiếc MIG-21 của Vũ Xuân Thiều nằm cách đấy không xa lắm. Đơn vị và nhân dân địa phương đã tổ chức trọng thể lễ an táng phi công Vũ Xuân Thiều tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Sơn La.

Anh em trong Trung đoàn, Sư đoàn, Binh chủng, Quân chủng xác định, sau khi phóng tên lửa, Vũ Xuân Thiều đã lao thẳng MIG của mình vào chiếc B-52 vừa bốc cháy. Cả hai chiếc máy bay đều đã bị rơi tại chỗ.

Sau này, hằng năm các bạn chiến đấu trong Quân chủng gặp nhau vẫn nhắc đến câu nói lịch sử của Thiều hôm rút kinh nghiệm đánh B-52: “Bắn mà B-52 không rơi tại chỗ là tôi lao thẳng vào nó…”.

Vũ Xuân Thiều đã thực hiện được quyết tâm và hoài bão cao đẹp của mình. Anh được tặng Huân chương Quân công hạng ba, sau đó được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ở Hà Nội hiện nay đã có một đường phố mang tên Vũ Xuân Thiều.

Tháng 10 năm 2002, một số chuyên viên Cục Hàng Không dân dụng Việt Nam sang công tác bên Mỹ đã đọc cuốn sách “Không chiến trên bầu trời Bắc Việt” của nhà xuất bản Squadron, bang Tếch-dát trưng bày ở Viện Bảo tàng Bay Hoa Kỳ tại Oa-sinh-tơn. Các anh chị thấy trong cuốn sách nói nhiều đến chiến công của những phi công Nguyễn Văn Cốc, Trần Hanh, Phạm Tuân, Phạm Thanh Ngân, Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Đức Soát, Đinh Tôn, Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Tiến Sâm… và 3 phi công đã bắn rơi B-52 Mỹ: Vũ Đình Rạng, Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều.

Nói đến chiến công của Vũ Xuân Thiều, tác giả Istvan Toperczer viết:

“Hồi 21 giờ 41 phút ngày 28-12-1972, được thông báo có B-52, phi công Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích từ sân bay Cẩm Thủy, theo chỉ huy của Sở chỉ huy mặt đất đuổi đánh tốp B-52.

Phát hiện mục tiêu trên bầu trời Sơn La, Thiều tiếp cận, phóng một tên lửa. B-52 trúng đạn. MIG-21 của Vũ Xuân Thiều bay sát rồi lao thẳng vào máy bay Mỹ, vỡ tan cùng chiếc máy bay B-52” .

Không phải đây là cuốn sách duy nhất ở Hoa Kỳ viết về chiến công của phi công Vũ Xuân Thiều. Đại tá Vũ Xuân Thăng, anh ruột liệt sĩ Thiều cho tôi xem bức thư của cháu anh, một sinh viên Việt Nam đang học bên Hoa Kỳ gửi về, kèm theo bài báo của một tác giả Mỹ viết về trận không chiến mà Thiều đã lao thẳng chiếc MIG-21 của mình vào chiếc B52-D của sĩ quan không quân Mỹ mang tên Lewis trên bầu trời Sơn La đêm 28-12-1972.

Trên căn gác nhà 21 Đặng Dung, Hà Nội, nơi Vũ Xuân Thiều trước đây vẫn hằng ngày đạp xe đi học tại Trường Chu Văn An, Trường đại học Bách khoa, vợ chồng Đại tá Vũ Xuân Thăng đã đưa tôi xem nhiều lưu niệm của Vũ Xuân Thiều khi anh còn học tại Trường Chu Văn An, Trường đại học Bách khoa, nhiều sách, báo viết về chiến công của Anh hùng Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều, nhiều kỷ vật của Thiều hoặc nói về Thiều mà gia đình còn giữ. Trong những kỷ vật đáng quý đó có mảnh xác chiếc B-52 Mỹ đã bị MIG của Thiều tiêu diệt trên không phận Sơn La, được đơn vị chiến đấu của Thiều gửi tặng.

Kim chiếc đồng hồ Quân chủng tặng gia đình đặt bên bàn thờ Vũ Xuân Thiều đã được đặt cố định ở 9 giờ 45 phút (đêm), cái thời điểm vinh quang mà người phi công anh hùng Vũ Xuân Thiều đã anh dũng hy sinh.

 

 

 Nguồn:   Người lính đặc công đánh chìm ‘soái hạm’ lừng danh của Mỹ

Sau chiến tranh, ông Náo chuyển công tác nhiều nơi nên ít ai biết ông từng đánh chìm tàu USNS Card.

Ông Lâm Sơn Náo tại nhà riêng

Ông Lâm Sơn Náo tại nhà riêng

Ông Lâm Sơn Náo (SN 1936, hiện ngụ tại phường Tân Kiểng, quận 7, TP HCM) sinh ra trong gia đình có 8 anh chị em, từ nhỏ ông đã làm công nhân cảng Sài Gòn.
Năm 1962, qua sự giới thiệu của cô ruột, ông Náo thoát ly theo cách mạng, chính thức trở thành chiến sĩ đội 65 Biệt động Đặc công Sài Gòn – Gia Định.
‘Sau khi được đào tạo cách thức xây dựng cơ sở, cách cài và đánh mìn, tôi được tổ chức yêu cầu quay trở lại nội thành hoạt động để nắm tình hình của Mỹ – Ngụy, nhất là các kho tàng dự trữ phương tiện chiến tranh’, ông Náo nhớ lại.

Đánh ‘hụt’ chiếc USS Core

Về nội thành, ông Náo quay lại cảng Sài Gòn xin làm công nhân, phát triển được 3 đồng chí, gồm: Đỗ Toàn (nhân viên phòng điều độ tàu bè, xếp chỗ cho tàu neo đậu), Nguyễn Văn Cậy (thợ điện), Nguyễn Phú Hùng (thợ hồ).
Ở bên ngoài, ông Náo tiếp tục phát triển thêm 20 cơ sở khác với nhiệm vụ cất giữ vũ khí, làm nơi trú ẩn, giao liên.
Khi đã có vũ khí, ông Náo thử thách cơ sở của mình bằng các trận đánh: trạm kiểm soát thương cảng Sài Gòn, cầu Tân Thuận, trên đường Trịnh Minh Thế; trạm cảnh sát gác đường Bến Bình Đông, đường Lê Văn Duyệt và đánh sập hoàn toàn chi khu cảnh sát ngụy ở quận Gò Vấp… làm chết và bị thương gần 200 tên địch.

Sau những trận đánh thử lửa, khi được ông Toàn báo tin tàu USS Core của Mỹ chuyên chở máy bay sẽ cập cảng lúc 18h ngày 30/12/1963, ngay từ trưa hôm đó, ông Náo cùng ông Cậy dùng xuồng đưa 4 trái mìn TNT (20kg/trái), 4kg thuốc nổ C4, thiết bị gây nổ vào đường cống ngầm dưới cầu tàu để chờ chiếc USS Core cập bến.

Sau khi buộc xong 4 trái TNT, thuốc nổ C4 vào khe hở của các trụ cầu cảng, ấn định thời gian nổ lúc 7h ngày 31/12/1963, ông Náo cùng ông Cậy nhấn chìm xuồng, lên bờ thay quần áo về nhà.

‘Quá hẹn, vẫn không thấy nổ. Tôi quyết định lội trở lại nơi đặt mìn để tìm hiểu nguyên nhân và nhằm đảm bảo kế hoạch đánh tàu không bị lộ còn anh Sáu Cậy đứng trên bờ cảnh giới.

Lúc đó, tôi nghĩ nếu mình xuống, mìn có nổ thì cũng chỉ chết 1 người, anh Cậy sẽ về báo cáo với tổ chức. Kiểm tra thấy 2 đồng hồ vẫn chập ở số 7, đoan chắc bị lép nên tôi bắt đầu tháo từng quả mìn ra khỏi trụ cầu tàu.

Cài mìn đã khó, nay phải thu lại từng trái càng nguy hiểm vì quân cảnh Mỹ đứng dày đặc trên cầu tàu có thể phát hiện mình bất cứ lúc nào’, ông Náo kể lại.

Những khối thuốc nổ sau đó cũng đưa về tới căn cứ. Qua kiểm tra, các chiến sĩ đội 65 Biệt động Đặc công mới vỡ lẽ: 10 viên pin (1,5V/viên) quá yếu đối với trái nổ được chế tạo từ khá lâu và bị phân tán thành 4 quả nên không đủ sức điểm hỏa.

Với nhận định mục tiêu không bị lộ, bảo toàn được vũ khí, chỉ huy đội 65 Biệt động Đặc công là ông Phạm Văn Hai quyết định cấp cho ông Náo 2 đồng hồ đắt tiền, nhồi 4 quả thành 2 quả, dùng pin loại 4,5V/viên, tăng thêm 4kg thuốc nổ C4 và chờ đợi.

Nhập vai dân buôn, đánh chìm tàu USNS Card

Chiều 30/4/1964, ông Toàn tiếp tục báo tin chiếc tàu USNS Card chở máy bay sẽ cập cảng vào sáng 1/5/1964.

Cơ hội đánh tàu lại đến nhưng lần này ông Cậy không thể xuống nước vì đau mắt khá nặng.

Với suy nghĩ nếu để lỡ thời cơ, những chiếc máy bay trên tàu sẽ xả súng giết đồng bào, đồng chí mình nên ông Náo vội chạy sang quận 4 để gặp ông Hùng ‘thợ hồ’ để phối hợp tác chiến nhưng không gặp được.

Phải đến tối 1/5/1964, ông Hùng mới qua gặp ông Náo. Lúc này trên cảng đã đen đặc mật vụ, cảnh sát, dưới sông tàu tuần tiễu pha đèn sáng rực và tàu USND Card đã bốc xuống bờ khá nhiều máy bay.

‘Chất xong mìn vào xuồng, tôi cùng anh Hùng chèo sang hướng đối diện con tàu. Lúc đó, đèn sáng choang, không thể tiếp cận nên chúng tôi tiếp tục chèo lên tận cảng Nhà Rồng để sang bờ, quay ngược lại.

Khi ra giữa sông, bị tàu tuần tra của cảnh sát đuổi theo, cả hai chèo thục mạng về bờ Thủ Thiêm, đẩy xuồng vào bãi sình.

Tàu cảnh sát không vào được, phát loa gọi ra, khi đó ở trên bờ dân vệ nghe thấy cũng chạy ra đòi kiểm tra. Tình huống thật nguy kịch’ – ông Hùng nhớ lại, giọng vẫn còn tràn ngập sự lo lắng.

‘Trước tình huống tiến thoái lưỡng nan, tôi nhanh trí nói đang đi mua radio lậu từ tàu nước ngoài, đã trả tiền trước, nếu lấy được sẽ chia cho 2 nhóm.

Nghe được chia phần, đám cảnh sát trên tàu đồng ý còn rọi đèn pha cho chúng tôi qua và đậu giữa sông canh chừng hải quân’, ông Náo hào hứng kể tiếp.

Lúc 2h ngày 2/5/1964, 2 quả mìn 80kg và 8kg thuốc nổ C4 được cài xong, thời gian điểm hỏa được ông Náo rút ngắn vào 3h cùng ngày.

Xong việc, cả hai chèo xuồng quay lại bờ Thủ Thiêm, tàu cảnh sát vẫn chờ đòi chia phần. Để thoát thân, ông Náo viện lý do không lấy được hàng, hối lộ cho cảnh sát với dân vệ gần 2.000 đồng rồi chèo xuồng về nhà chờ.

Đúng 3h, hàng loạt tiếng nổ như sấm, lửa bốc cao đến nỗi đứng xa nhiều cây số vẫn nhìn thấy.

Lúc đó 2 anh em ông Náo mới dám thưởng cho mình nồi cháo vịt. Sáng hôm sau, các đài nước ngoài đưa tin Việt Cộng đánh chìm soái hạm của USNS Card của Mỹ với 1 lỗ thủng dài khoảng 24m, làm chết và bị thương 120 lính Mỹ, phá hủy 23 máy bay, gồm: 19 chiếc trực thăng HU 1A, 2 chiếc trinh sát L192 khu trục AD6.   

HKMH

Báo Sài Gòn giải phóng

Xem thêmThông tin về đặc công đánh bom tàu chuyển vận Card ( không phải soái hạm như ông Náo tưởng lầm ) trên Wikipedia( Phụ chú của ovv )

Nguồn:   Lê Trung Hiến-Những trận đánh huyền thoại mùa xuân Kỷ Dậu

Giai đoạn quân và dân ta hạ quyết tâm mở cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm Kỷ Dậu 1969 cũng là cái Tết cuối cùng mà Bác Hồ gửi thư chúc Tết, kêu gọi “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, ông trở thành điển hình tiêu biểu trong phong trào đánh giặc cả nước với những trận đánh “xuất quỷ nhập thần”, tiêu diệt hàng trăm tên Mỹ, ngụy. Điên cuồng trước sức tấn công của du kích Hòa Hưng, bọn Mỹ – ngụy thề “bằng mọi giá phải tiêu diệt vi-xi (Việt cộng) Lê Trung Hiển”

Ông đưa chúng tôi đi thăm lại cánh đồng xóm đình Bồ Bản – nơi diễn ra trận quyết chiến của quân dân, du kích Hòa Hưng với địch trong trận mở màn tấn công vào cứ điểm Túy Loan. Ông nhớ lại, mùa xuân Kỷ Dậu 1969, tình hình chiến trường diễn ra rất quyết liệt, khắp chiến trường miền Nam quân ta phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích mở những trận đánh lớn vào các cứ điểm chính nhằm tiêu hao sinh lực địch. Ngày 20-2-1969 (tức mồng 7-1 năm Kỷ Dậu), dưới sự chỉ huy của đồng chí Phùng Xuân Thành – Huyện đội trưởng, Trung đoàn E141 với bộ đội huyện và du kích xã Hòa Hưng tấn công vào cứ điểm Túy Loan.

Đồng chí Thành giao nhiệm vụ cho ông chỉ huy đội du kích xã Hòa Hưng trấn giữ cánh bắc mặt trận tại xóm đình Bồ Bản. Trận đánh diễn ra quyết liệt từ 5 giờ sáng đến 19 giờ, có thể nói một mét vuông đất có hàng chục quả đại bác, hàng ngàn viên đạn đủ loại cày xới, tưởng chừng cây cỏ cũng không thể sống sót. Địch với vũ khí hiện đại, có máy bay, xe tăng yểm trợ đã tổ chức hơn 100 trận tấn công bằng bộ binh cả Mỹ lẫn ngụy vào vị trí đóng giữ lực lượng của ta. Song với lòng quyết tâm, ông cùng các đồng đội đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, đẩy lùi hơn 20 đợt phản công của địch, tiêu diệt hơn 300 tên, quân ta rút lui an toàn.

Vợ chồng bác Lê Trung Hiển ước mơ một lần được ra thăm lăng Bác.

Vợ chồng bác Lê Trung Hiển ước mơ một lần được ra thăm lăng Bác.

Vợ chồng bác Lê Trung Hiển ước mơ một lần được ra thăm lăng Bác.

Chỉ với 1 khẩu súng phóng lựu đạn M79, ông đã trực tiếp bắn đến hàng trăm quả đạn vào quân thù, hết súng đạn xông ra lấy súng đạn, quần lộn, đánh giáp lá cà với địch. Rất nhiều đồng đội, bộ đội đã hy sinh anh dũng trong trận đánh quyết liệt này. Ông bảo: “Tinh thần quyết tử, tất cả chúng tôi đều xem cái chết “nhẹ tựa lông hồng”. Dưới làn bão lửa bom đạn, tất cả vẫn lao lên, bám vị trí chiến đấu, đẩy lui hết tốp này đến tốp khác của địch tràn lên”. Đây là trận đánh đã đi vào lịch sử Hòa Vang như một chiến công lớn nhất, vang dội nhất của du kích Hòa Hưng và của xã Hòa Phong trong suốt những năm chống Mỹ.

Chiến công nối tiếp chiến công, một đêm tháng 3-1969, Lê Trung Hiển chỉ huy du kích Hòa Hưng tập kích một trung đội “Mỹ lết” đi càn về, chui vào ngủ tại sân nhà Bà Tùng ở xóm Gò Dừa, Cẩm Toại Đông. Chờ chúng ngủ say, 1 giờ đêm, ông và du kích Lâm Quang Triện ém sát góc vườn, đồng loạt tung 8 quả lựu đạn giết chết tại chỗ 26 tên. Giặc Mỹ điên cuồng, hoảng loạn bắn pháo sáng và đưa 2 chiếc máy bay đến nhặt xác. Bọn còn sống lếch thếch kéo về đến quán bà Choi, lại bị tổ thiếu niên “Sống như Anh” (phong trào học tập gương anh Nguyễn Văn Trỗi) của Hòa Hưng “bồi” tiếp một quả M26, giết và làm bị thương thêm 4 tên Mỹ nữa. Số còn lại tháo chạy. Ngoài ra, ông còn dùng súng bắn tỉa tiêu diệt 15 tên Mỹ – ngụy khác. Nói về những trận đánh “xuất quỷ nhập thần” mang dấu ấn của xã đội trưởng Lê Trung Hiển, trong lần gặp gỡ sau giải phóng, một lính ngụy tên N., hiện vẫn còn sống đã kể với ông bọn Mỹ, ngụy vừa khiếp sợ, ăn không ngon ngủ không yên, vừa căm thù ông đến tận xương và thề “bằng mọi giá phải tiêu diệt vi-xi Lê Trung Hiển”.

Mãi cho đến tháng 10-1969, lợi dụng đợt lũ lớn khiến toàn bộ công sự bị ngập, lính Mỹ mở các đợt càn quét cả trên bộ lẫn bằng xuồng dưới nước. Một số cán bộ, du kích lúc này không còn chỗ ẩn nấp, ông và đồng chí Nguyễn Nhặt nằm dưới khe, lấy rác, bèo tủ lên người. Địch phát hiện bắn đồng chí Nhặt hy sinh, riêng ông bị bắn gãy cánh tay trái, không còn đủ sức chiến đấu nằm ngất tại chỗ và bị bắt đưa về giam giữ tại nhà lao, sau khi không khai thác được gì, chúng chuyển ông ra giam tại Côn Đảo.

Trong cuốn “Lịch sử đấu tranh cách mạng xã Hòa Phong giai đoạn 1954-1975” ghi rõ: “Trong chiến công chung có chiến công xuất sắc của xã đội trưởng dũng cảm, kiên cường, đầy mưu trí Lê Trung Hiển. Thời gian từ 1965-1969, Lê Trung Hiển đã chỉ huy Đội du kích Hòa Hưng đánh hơn 100 trận, diệt 500 tên giặc, 2 máy bay và 1 xe bọc thép, trong đó, riêng Lê Trung Hiển diệt được 175 tên Mỹ và hàng trăm tên ngụy, bắn cháy 1 máy bay”. Với thành tích trên, Lê Trung Hiển đã 4 lần được tham dự Đại hội Chiến sĩ Thi đua diệt Mỹ Hòa Vang, 15 lần được trao Huy hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, trong đó, có nhiều huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ ưu tú, quyết thắng và dũng sĩ diệt máy bay tại các kỳ Đại hội.

Ông cũng 2 lần dự Đại hội Dũng sĩ tỉnh Quảng-Đà và năm 1969 được cử đi dự Đại hội Anh hùng Chiến sĩ Thi đua toàn quân khu V tại vùng căn cứ Trà My (Quảng Nam). Tuy nhiên, mới đi được đến Thạnh Mỹ (Nam Giang, Quảng Nam), do tình hình đánh phá ác liệt, cơ sở cách mạng thiệt hại quá nặng nên đoàn được lệnh tạm hoãn, quay về tiếp tục chiến đấu. Đây cũng là giai đoạn đau buồn nhất của cách mạng, quân và dân ta bởi thông tin Bác Hồ đã mất lan ra. Ông rưng rưng nước mắt khi hồi tưởng về Bác Hồ: “Nghe tin Bác mất, không ai kìm được đau buồn! Đánh Mỹ được đi dự nhiều kỳ Đại hội, tôi chỉ ước được gặp Bác một lần! Tôi và đồng đội, cơ sở âm thầm làm lễ truy điệu Bác Hồ tại quê nhà Hòa Phong, gạt nước mắt biến đau thương thành tinh thần quyết thắng giặc Mỹ, ngụy”. Mặt trận Dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam cũng quyết định tặng thưởng ông 5 Huân chương Chiến công giải phóng. Đặc biệt, năm 2001, ông còn vinh dự được đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Nguồn:  Đặc công Việt Nam đánh đắm tàu chở dầu to “như tòa nhà 5 tầng”

Đúng 19 giờ ngày 6/9/1969, tại một điểm xuất phát ở Cửa Tùng, tổ chiến đấu của Đội 1 gồm 3 người: Bùi Văn Hy, Trần Xuân Hỗ và Trần Quang Khải do Bùi Văn Hy làm tổ trưởng xuất phát, bơi ra biển tiếp cận tàu địch. Mỗi người mang theo ống thở, khí tài lặn, hai thủ pháo, hai lựu đạn, dao găm… Riêng chiến sĩ Hỗ và Khải nhận thêm hai quả mìn rùa nặng 6,8kg của Liên Xô sản xuất. Đây là loại vũ khí rất lợi hại của đặc công nước, có ghép bốn mươi tám mảnh nam châm hình móng ngựa, có sức hút 100kg. Khi mìn đã áp vào sườn tàu, rút chốt an toàn, đúng giờ sẽ nổ, nếu chưa đến giờ nổ mà bị tháo gỡ, mìn cũng tự phát nổ, bởi nó có ngòi chống tháo.

Hai đồng đội Khải và Hỗ bơi ra biển, nhằm thẳng hướng sáng ngoài khơi nơi tàu USS Noxubee thả neo, còn Bùi Văn Hy ngồi trong một chiếc thuyền của ngư dân bỏ lại trên bãi biển cảnh giới, theo dõi.

Sau gần năm giờ bơi, vật lộn với sóng gió, tổ chiến đấu đã đến gần vị trí tàu. Mặt biển quanh tàu sáng như ban ngày bởi ánh sáng đèn pha. Tổ bắt được dây neo, men theo dây neo hai chiến sĩ ôm được chân vịt của tàu rồi bơi men ra giữa thành tàu. Thành tàu bám đầy hà, sợ gắn mìn rùa không đảm bảo kỹ thuật, chiến sĩ Khải rút dao găm bên người, nhẹ nhàng cạo hết lớp vỏ hà bám bên sườn tàu, gắn mìn vào. Rút chốt an toàn, cắt dây phao mìn, rồi hai người ngậm ống thở lặn sâu xuống rút lui.

Tàu chở dầu USS Noxubee

Tàu chở dầu USS Noxubee – Bấm vào hình vào trang Wikipedia xem thêm chi tiết về tàu này ,

Vừa cách tàu khoảng một mét, cái phao bật lên mặt nước, lính Mỹ trên tàu hốt hoảng kêu la ầm ĩ: “Vixi! Vixi!”. Còi báo động trên tàu rú vang. Lính Mỹ tập trung ném lựu đạn và bắn xuống nước, cho 3 máy bay trực thăng bay ngang dọc, quét đèn pha sáng rực cả một vùng quyết tìm diệt bằng được những người lính đặc công thủy Việt Nam – một trong những đối thủ nguy hiểm nhất của Mỹ lúc bấy giờ.

Khoảng một tiếng sau, từ chiếc tàu vận tải 15.000 tấn phát ra hai ánh chớp xanh lè kèm theo hai tiếng nổ lớn rung chuyển cả mặt biển. Cột lửa bùng lên từ con tàu chở dầu USS Noxubee sáng cả một vùng. Sức ép làm hai người nghẹt thở, choáng váng rồi chìm nghỉm xuống nước. Dây đồng đội bị đứt, hai người – Khải và Hỗ mỗi người văng một nơi, mất liên lạc, cứ như vậy để nước cuốn trôi đi…

Suốt một ngày lạc nhau, đói, khát, ẩn giấu mình dưới sự lùng sục, truy quét của địch, người nọ tưởng người kia đã hy sinh. Đến tối, cả ba chiến sĩ đã gặp nhau ở điểm quy định bên bờ bắc Cửa Việt. Chiến sĩ Khải bị thương vào đùi còn Hỗ bị sức ép, ù tai.

Sự kiện tàu dầu 15.000 tấn của Mỹ bị đánh đắm này được hơn 70 tờ báo của các nước đưa tin, bình luận với những dòng tít “kinh hoàng”, “ngoài sức tưởng tượng”… Có tờ báo còn đặt câu hỏi: Bằng cách gì mà Việt cộng có thể thâm nhập, cài đặt mìn vào tàu khi mà rađa trên tàu quét 24/24h và thiết bị theo dõi của tàu có thể nhìn thấy từng con cá đang bơi dưới biển?

Xem thêmThông tin về tàu Noxubê trên Wikipedia( Phụ chú của ovv )

Còn viên trung uý Hồ Biền – chỉ huy đơn vị người nhái của chính quyền Sài Gòn sau đó kể với các phóng viên báo: “Hôm đó tôi dẫn lính ra để thực thi nhiệm vụ. Nhưng ai cũng sợ xanh mặt… Lúc chúng tôi trở về, Đô đốc Lâm Ngươm Tánh quát rằng: Gió bão như vậy, đặc công thuỷ Việt cộng không thể lặn ra biển được. Nhất định bọn người nhái chúng mày đã làm phản. Thế là tôi phải ngồi tù 1 năm”.

Còn Thiếu tướng Mai Năng, một trong những người người đã “khai sinh” ra Đoàn đặc công 126 Hải quân Nhân dân Việt Nam cho biết, Đoàn 126 được thành lập ngày 13/4/1966, rồi được tung vào chiến trường bắc Quảng Trị trong lúc chiến trường này đặc biệt nóng bỏng. Để tiếp tế cho hơn 3 vạn quân Mỹ và hàng vạn quân đội Sài Gòn đang bị giam chân ở mặt trận đường 9 Khe Sanh, địch coi tuyến đường biển Cửa Việt – Đông Hà là “cái dạ dày” cung cấp vũ khí, nhu yếu phẩm của họ. Và Đoàn 126 được giao nhiệm vụ tấn công, làm tắc nghẽn tuyến giao thông trọng yếu này của chúng.

Gần 7 năm bám trụ ở chiến trường Quảng Trị (từ 1967-1972), với phương thức tác chiến độc đáo “luồn sâu, đánh hiểm, lấy ít thắng nhiều”, Đoàn 126 đã đánh chìm tổng cộng 339 tàu chiến, tàu vận tải của địch, ngoài ra còn đánh hỏng 33 chiếc khác, phá huỷ hàng vạn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch.

Những trận đánh liên tiếp của Đoàn đặc công 126 Hải quân khiến địch thất điên bát đảo, khiến chúng phải thốt lên: “Hiện nay tàu bè đi lại trên thủy lộ sông Cửa Việt đang bị thuỷ lôi của cộng sản đe doạ trầm trọng” (trích tài liệu “Lực lượng hải quân Bắc Việt” của phòng Nhì Hải quân chính quyền Sài Gòn).

Nguồn:  Anh hùng Trịnh Tố Tâm – “Dũng sĩ diệt Mỹ” trên đèo Hải Vân                             

 Anh hùng Trịnh Tố Tâm. Ảnh tư liệu.

Anh hùng Trịnh Tố Tâm. Ảnh tư liệu.

Sinh ra và lớn lên tại vùng đất “Khu Cháy kiên cường”, quê hương nổi tiếng với những trận chống càn oanh liệt để bảo vệ căn cứ kháng chiến đã đi vào lịch sử dân tộc như một huyền thoại trong thời kỳ chống Thực dân Pháp. Năm 1965, giữa lúc Đế quốc Mỹ ồ ạt dùng máy bay đánh phá miền Bắc, đang là học sinh lớp 10, anh đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ vào chiến trường chiến đấu. Là một trong những thanh niên đợt đầu tiên tham gia phong trào “Ba sẵn sàng” do Trung ương Đoàn kêu gọi Đoàn viên thanh niên cả nước hưởng ứng vào những năm Đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang đánh phá miền Bắc. Anh cũng là những thanh niên đầu tiên thực hiện hoài bão của tuổi trẻ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, anh được biên chế vào đại đội 21 Công binh của Trung đoàn Phú Xuân Quân khu Trị Thiên-Huế; đơn vị của anh được giao nhiệm vụ đánh giao thông trên đoạn đường qua đèo Hải Vân ngăn chặn sự vận chuyển vũ khí, trang bị chi viện cho lực lượng của địch ở phía bắc đèo Hải Vân và chiến trường Quảng Trị.

Đơn vị của anh hoạt động trên đèo Hải Vân, địa bàn xa căn cứ ta, địch thường xuyên càn quét để bảo vệ tuyến giao thông đường sắt và đường bộ, điều kiện hoạt động vô cùng khó khăn, thiếu thốn, gian khổ. Để có được nước ngọt sử dụng, các chiến sĩ phải đi từ đỉnh đèo xuống tận khe nước sâu bên bờ vực gùi từng lít nước lên để dùng, vì vậy nhiều khi đánh thắng địch trở về đơn vị vừa đói, vừa khát khô cổ họng nhưng không tài nào kiếm nổi một giọt nước để uống. Buổi sáng, muốn có nước uống các chiến sĩ phải ngửa mặt hứng lấy những giọt sương đêm còn vương trên các tàu lá để nhấp cho qua cơn khát. Những khó khăn ấy đã không khuất phục được ý chí quyết tâm của những người lính công binh bám trụ trên đèo Hải Vân, mà càng thôi thúc và hun đúc ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để thực hiện lời Bác dạy “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Những năm tháng chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên, anh đã chỉ huy đơn vị bám đất, bám dân, phát động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, dựa vào nhân dân bám trụ kiên cường chiến đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Từ năm 1967 đến năm 1970, anh đã tham gia và chỉ huy đơn vị chiến đấu 58 trận, tiêu diệt 1.500 tên địch, trong đó có 700 tên Mỹ, phá hủy 61 xe quân sự, đánh bật 19 đoàn tàu hỏa, đánh sập 28 cầu, cống. Trong những trận chiến đấu đó, riêng cá nhân anh đã diệt được 272 tên địch (trong đó có 185 tên Mỹ), bắn rơi và phá hủy 03 máy bay lên thẳng của Mỹ, ngụy.

Trong chiến đấu anh không những là người cán bộ gan dạ, xông xáo, đầu tầu gương mẫu trong các trận chiến đấu mà anh còn là cán bộ có nhiều sáng kiến, nghĩ ra nhiều cách đánh độc đáo, tiêu diệt được nhiều sinh lực, vũ khí phương tiện chiến tranh của địch, mà lực lượng của ta ít tổn thất nhất, tiêu biểu như: Năm 1968, trong một lần đi trinh sát 3 ngày đêm trên đèo Hải Vân, tổ của anh phát hiện bọn Mỹ đi tuần đêm, đến gần sáng chúng thường cụm lại trên một điểm cao cạnh đường; anh đã dẫn một tổ lên cài một bãi mìn ở đó và diệt được 60 tên địch, tổ chiến đấu của anh rút ra an toàn. Đầu năm 1970, trong một đi trinh sát gài mìn đánh xe cơ giới của địch trên quốc lộ số 1, anh và đồng đội đã nghĩ ra cách đánh liên hoàn; nắm rõ  thủ đoạn của địch, khi bị phục kích trên quốc lộ, chúng thường dùng máy bay đổ quân để chặn đường rút của ta; trước khi tổ chiến đấu của anh về vị trí điểm hỏa mìn đánh cơ giới địch trên quốc lộ số 1, anh cùng hai chiến sĩ bí mật lên ngọn đồi mà máy bay địch thường đổ quân, nghiên cứu địa hình gài mìn đánh địch khi chúng đổ bộ đường không; đúng như dự đoán, sau khi đoàn xe cơ giới của địch bị trúng mìn thiệt hại nặng nề, chúng cho máy bay trực thăng chở quân đổ bộ xuống mấy ngọn đồi trên đường rút của lực lượng ta; khi địch vừa rời khỏi máy bay, tỏa ra xung quanh chúng giẫm phải mìn cài sẵn của ta, khiến nhiều tên bị chết và bị thương tại chỗ, đồng thời chúng sa vào trận địa phục kích của ta nên trận này địch bị thiệt hại nặng nề, hai trung đội bị diệt gọn và hai máy bay lên thẳng bị phá hủy.

 

Và …. Tuyệt diệu đến mức thần thánh : Liệt sĩ Nguyễn Văn Bé   – Hy sinh và được phong thánh Liệt sĩ năm 1966 –  ( Sống lại rồi .. )  Từ trần năm 2002 .                   Trang web Liệt sĩ Nguyễn Văn Bé

LSNvanBe

TIỂU SƯ ANH HÙNG NGUYỄN VĂN BÉ

Trích từ: http://nvbchannel.net

Nguyễn Văn Bé sinh ngày 03 tháng 02 năm 1941, mất ngày 24 tháng 03 năm 2002, dân tộc Kinh quê ở xã Phú Cường, huyện Châu Thành, tỉnh Sông Bé. Nhập ngũ tháng 7 năm 1961, là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, được tuyên dương anh hùng khi làm đại đội phó đại đội 304, tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Lợi, Thủ Dầu Một.
Trong chiến đấu, anh Nguyễn Văn Bé luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm tích cực chủ động tiến công, bình tĩnh, mưu trí trong mọi tình huống gay go ác liệt, nhiều lần bị thương vẫn không rời vị trí, ngoan cường chỉ huy đơn vị giữ vững trận địa, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, lập công xuất sắc.
Từ năm 1961 đến năm 1967, đồng chí đã tham gia chiến đấu 60 trận, giết chết 85 tên địch (trong đó có 35 tên Mỹ), bắt sống 8 tên, thu 30 súng (trong đó có 1 đại liên và 2 trung liên).
Nguyễn Văn Bé là một cán bộ xuất sắc toàn diện, không những huấn luyện giỏi, chỉ huy chiến đấu mưu trí, dũng cảm mà còn làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưỡng, chăm lo xây dựng đơn vị, hết lòng yêu thương, giúp đỡ đồng đội lúc thường cũng như khi chiến đấu, sống khiêm tốn, giản dị, được đồng đội yêu mến.
Nguyễn Văn Bé đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965 – 1966), đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.
Ngày 17 tháng 9 năm 1967, anh đã được Uỷ Ban Trung Ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
[Trích sách “Anh hùng lực lượng vũ trang” & phòng truyền thống trường]

TRUYỀN THỐNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGUYỄN VĂN BÉ

Trường THCS Nguyễn Văn Bé thành lập từ năm 1976, tính đến nay đã được 34 năm.

Nhiều năm liền đạt thành tích Tiên tiến cấp Thành phố. Đã từng nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Công đoàn, Chi đoàn nhà trường luôn giữ vững danh hiệu Công đoàn vững mạnh xuất sắc, Chi đoàn xuất sắc. Từ trước đến nay, các bạn, các anh chị đội viên đã tích cực tham gia các hoạt động Đội và phing trào thiếu nhi vì thế trường ta luôn đạt danh hiệu Liên đội xuất sắc.

Mấy ngày vừa qua, trên mạng có nhiều tin nói về trường Nguyễn Văn Bé THCS Kỷ luật cô giáo tát học sinh (Đviệt). ở đây không bàn về mức kỷ luật với cô giáo, mà là về cái tên của ngôi trường. Không biết thầy cô, các em học sinh ở đây có được học tập, thậm chí biết chút gì về người anh hùng mà ngôi trường được vinh dự mang tên? Còn hồi nhỏ những người sinh ra và lớn lên trong những năm chống Mỹ đã được nghe rất nhiều về người anh hùng liệt sĩ này cùng với hình tượng anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Thời đó được coi những vở kịch diễn tả về hành động mưu trí cảm tử của anh khi bị bắt mà vẫn lừa được kẻ địch, cho nổ cả đống bom mìn, giết chết nhiều sĩ quan quân đội Mỹ và Sài Gòn. 

Tem Liệt sĩ Nguyễn Văn Bé

 
Giờ cố lục tìm trên mạng thì được biết một lai lịch rất lạ, cho biết là người Anh hùng liệt sĩ đó “mất” năm 2002 chớ không phải là đã “hy sinh” năm 1966, cũng không cho biết một con người ưu tú, nhiều công tích như vậy được thăng tiến ra sao, trong lúc có nhiều đồn đoán rất lạ về anh, cả bài viết trên báo chí nước ngoài. Hy vọng các sử gia góp phần làm rõ, cũng như Sự thật về “anh hùng Lê Văn Tám”, để góp phần giáo dục con cháu ta cái tính trung thực. Trong chiến tranh, lấy yếu đánh mạnh, ít địch nhiều, nên đôi khi phải dùng cả những màn tháu cáy chút mới được. Nhưng hòa bình, xây dựng đất nước mấy chục năm rồi, không thể vì thế mà che giấu mãi, không dám nói thật ra. Cứ cái lối vậy, làm sao trách con nít nó dối trá, nó khinh mình.
(Theo anhbasam.com)

 

BeTitle2aaaa

 

 

Xem thêm :Nhiều anh hùng dũng sĩ diệt Mĩ Nguỵ khác theo VietNam military.net

___________________________________

 ovv – ki cóp trên  báo Net VietNam

One comment

  1. Pingback: Mục Lục ovv | Chiêu Anh Quán

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s