Nhật Ký Chiến Tranh : Quảng Trị 1972 (Phụ Lục)

QT1
Một bài ký viết về Trị Thiên 1972 của Dương Nghiễm Mậu

Lời dẫn
Như tôi đã kể trong một vài lần trước, mấy năm từ 1972 trở đi, các báo lớn ra ở Sài Gòn có mặt rất sớm Thư viện quân đội 81 phố Lý Nam Đế Hà Nội.
Tháng 9- 1972, từ Quảng Trị trở về, tôi đọc được ở đó hai bài ký Một ngày ở Trị Thiên của Ngụy Ngữ, tạp chí Bách Khoa số 376 (khoảng tháng 6, tháng 7 1972) và Quảng Trị đất đợi về của Dương Nghiễm Mậu, Chính văn số 1, 15-7-72.

Bài của Ngụy Ngữ kể tác giả theo một xe con vào Huế, ra Mỹ Chánh, Hải Lăng. “Đến Diên Sanh xe không đi thêm được; quân dù động chạm súng trên quốc lộ cách 1km”.

Đọng lại trong tôi là cái câu than tiếc của tác giả “Có nơi đã được sinh ra đời, có nơi tôi đã ấu thơ lui tới, có nơi tôi đã cười cợt với bạn bè… tất cả bây giờ là một miền vỏ đạn.
Tiếc là hiện nay tôi không có trong tay Bách Khoa để đọc lại Ngụy Ngữ.
Còn bài của Dương Nghiễm Mậu, tôi cũng đọc trong tinh thần đối thoại trước một hiện tượng mà mình cùng chứng kiến.
Quê hương ta những vùng đất hứa có thật vẫn còn đó nhưng chừng như lúc nào cũng ở ngoài tầm tay với…” Tôi đã ghi lại câu này trong sổ tay 1972, vì nó như vang hưởng của cả bài mà cũng vì … chính tôi cũng có lúc có ý nghĩ tương tự.
So với Bách Khoa, thì Chính Văn là tờ báo không mấy người biết, nhưng may mà một vài mạng hôm nay do chú ý tới Dương Nghiễm Mậu còn in lại Quảng Trị đất đợi về để tôi lấy lại giới thiệu sau đây, xin phép tạm gọi gọi là phụ lục cho những trang Nhật ký Quảng Trị hè 1972.

Quảng Trị, đất đợi về
Mỗi lần trước khi trở lại miền Trung, điều tôi thường hỏi: ngoài đó bây giờ mưa hay nắng. Lần này cũng thế, người em tôi vừa từ Huế trở về sau hai mươi ngày công tác nói: trời đang nắng và thành phố đầy hoa phượng, hoa sen. Bây giờ ngoài đó mùa hè và tôi nhớ tới không khí oi bức trong những chuyến đi cũ vào những thời gian đầu mùa hè: hoa phượng đỏ trên những ngọn cây, hoa sen nở đầy trong hồ Tĩnh Tâm, chung quanh trường thành, những trái nhãn nhỏ sai trên ngọn cây trong Thành nội. Nhưng khi tôi đặt chân tới Đà Nẵng, buổi chiều mây thấp và mưa nhỏ hạt. Người bạn nói với tôi trời mới đổ mưa từ buổi sáng. Tôi nhìn thấy mây thấp trên phía đèo Hải Vân. Đà Nẵng mưa thì chắc Huế mưa. Tôi hỏi về con đường qua đèo, người bạn nói: đi được như thường, hôm qua hơi bị kẹt vì cầu Nam Ô bị gẫy. Tôi hỏi cây cầu nào. Anh bạn nhắc lại: cầu Nam Ô. Tôi nói không phải, tôi biết ở đó có hai cây cầu, tôi muốn biết cầu nào vì trong chuyến đi trước, cây cầu mới xây cất, thứ cầu cho những xa lộ chưa dùng được, hôm trước đã có tin cho biết cầu Nam Ô bị sập, nhưng là cây cầu cũ, cầu xe lửa, người bạn nói, bây giờ thì cả hai nhưng đang được sửa chữa. Trời mây thấp, mưa nhỏ hạt, những di chuyển ướt át khiến cho thị trấn có một khung cảnh đìu hiu.

Tôi gởi hành lý lại nhà người bạn rồi chạy quanh, vẫn khung cảnh quen thuộc, thêm một vài ngôi cao ốc đang được xây cất nhưng chừng như công việc đã ngừng lại, những trường học trở thành trại tạm cư. Tại trường nữ, tôi thấy những nữ học sinh ngồi gác cổng ra vào trong khi đó có một gia đình thì chất hành lý lên hai chiếc xích lô, tôi hỏi và được biết: họ dời ra trại Hòa Khánh. Trại tạm cư Nguyễn Thượng Hiền cũng đã đóng cửa với tấm vải lớn kẻ những hàng chữ cho thấy những người tị nạn đã ra sống ở trại tạm cư Hòa Khánh. Đi bộ trên đường phố tôi thấy số xe ôm gia tăng với những chiếc xe ghé lại lề đường. Buổi chiều báo từ Sàigòn ra trễ và những nhà sách đông người ghé lại đợi chờ những tờ báo phát hành từ chiều hôm trước tại Sàigòn… Tôi ghé lại nhà những người quen, nơi nào cũng có những người thân từ Quảng Trị, từ Huế vào tạm trú, một vài người đã trở lại Huế, hoặc đi Sàigòn, tôi được nghe nói về những người tị nạn đã vào Chu Lai, đã đi Long Khánh. Một gia đình trong khi chạy khỏi Quảng Trị đã bị thất tán, một nửa vào được Đà Nẵng, còn một nửa không biết đâu, những người thân đang đi tìm kiếm nhau. Đài phát thanh Đà Nẵng với mục nhắn tin đài của những người ở Quảng trị tìm tin cha, tìm mẹ, chồng con thất lạc. Có những đứa trẻ tám chín tuổi bị lạc gia đình trên đường chạy giặc. Theo dõi mục nhắn tin tôi thấy nỗi tan hoang đối với hơn ba trăm ngàn dân chúng vùng giới tuyến.

Trại tạm cư lớn nhứt ở Đà Nẵng dành cho Quảng Trị nằm ở Hòa Khánh, một quận ở ngoài thị xã, nằm phía nam đèo Hải Vân, ngay ven quốc lộ Một. Tôi ngạc nhiên khi vừa từ thị xã tới đây lúc đứng trước một ngã ba đường có tấm bảng lớn sơn xanh, kẻ trắng hàng chữ: QUẬN GIO LINH. Quận Gio Linh, tôi nói với người bạn: quận Gio Linh ở Đà Nẵng! Tôi nhớ tới nơi tôi đã từng ghé lại trong những năm trước trên đường công tác. Ngày ấy tôi theo quốc lộ Một vượt Đông Hà ra tới đồn A2 nằm ngoài cùng giáp với vùng phi quân sự sau khi quân đội ta đã bỏ chân cầu Hiền Lương trở vào trấn đóng phía trong gần với quận Gio Linh. Trên con đường đầy những bom đạn tôi chỉ thấy những cánh đồng hoang vu không bóng người, dân chúng đã phải rời làng mạc trở vào sống trong khu định cư Hà Thành, còn lại chăng một số thôn ấp nhỏ bé nằm ở giữa quốc lộ với bờ biển, còn lại phía Tây quốc lộ thì coi như bình địa với vùng oanh kích tự do. Nay Gio Linh chỉ còn là tên gọi của một vùng đất. Hai tiếng Gio Linh đã đi theo dân chúng vào Đà Nẵng. Bỏ quốc lộ đi sâu vào gần bờ biển, nơi đây có hàng trăm lều vải mới được dựng lên cho dân chúng tạm trú. Người trưởng trại ngày nay là ông quận trưởng của vùng đất cũ. Vị thiếu tá này người nhỏ bé trong bộ đồ đen nói cho tôi biết qua tình hình dân chúng, ông không thể đoán chắc về số dân chúng tại Gio Linh đã ra đi, vì hiện dân chúng không những chỉ sống tại Đà Nẵng, họ còn vào Chu Lai và nhiều nơi khác nữa, con số phỏng chừng khoảng 28 ngàn người ra đi so với dân hơn ba chục ngàn người. Ông kể lại cho tôi nghe những ngày kinh hoàng ở Quảng Trị khi đoàn người rời khỏi nơi đây để vào Huế: cả đoàn xe bị mìn và pháo kích, nhiều người bị thương phải nằm lại với tiếng kêu la thảm thiết…
– Ông thấy dân chúng có muốn đi vào lập nghiệp ở trong Nam không?
– Phần lớn dân chúng không muốn đi, họ mong trở lại Gio Linh.
Khi tôi từ trong lều đi ra thì có một người đàn ông giữ tôi lại và hỏi tôi có phải nhà báo không? Tôi nói không phải. Ông ta nói điều muốn nhờ. Tôi nói cho tôi biết. Sau đó ông ta giới thiệu là một người thuộc làng Gia Hải, một làng phần lớn sống bằng nghề chài lưới tại Cửa Việt, tôi ngạc nhiên khi biết dân chúng tại làng này đã cùng nhau xuống thuyền đi về phía Nam bằng những chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé của họ. Điều mà người này muốn nhờ tôi là: tranh đấu cho họ được ở lại Đà Nẵng sinh sống, họ chỉ cần giúp đỡ lương thực một tháng đầu rồi sẽ tự túc bằng nghề đánh cá của mình. Sau đó ông ta cho tôi thấy, dân chúng tại Gia Hải đưa được vào Đà Nẵng 150 chiếc thuyền, chuyến ra đi của họ hết sức gian khổ, trước hết khi ra khỏi Cửa Việt họ đã bị cộng quân ngăn cản, súng đã nổ vào đoàn thuyền, một số dân chúng đã không ra đi được vì những làn đạn này, nhiều người đã bị thương và chết trong chuyến ra đi, trước hết họ tới được cửa Thuận An. Sau đó tới Thuận An vào trong bãi biển Đa Phước. Khi tôi nói tới chuyện đi vào miền Nam ông ta nói chính phủ có thể mang được người đi nhưng còn thuyền bè của chúng tôi thì sao, chúng tôi sống bằng nghề biển như vậy làm sao để thích ứng với nghề nông trong khu vực khai hoang? Chung quanh tôi mỗi lúc một đông người, mỗi người góp một câu chuyện, ai cũng trông được sống ở Đà Nẵng và chờ ngày trở lại quê hương của họ, tôi cũng đã được nghe câu chuyện thương tâm của một người mẹ kể lại cái chết của con mình trên chuyến đi Nam, đứa con của bà đã chết trên chiếc thuyền của gia đình trong khi vượt biển vào cửa Thuận. Tôi mường tượng thấy cảnh tượng bi hùng của chuyến ra đi, cảnh tượng giống như những người dân miền Bắc trong vụ Trà Lý, những người đã chọn để được sống tự do hoặc là chết… Gần hai mươi năm sau, cảnh tượng đó lại tái diễn một lần nữa.

Câu hỏi mà tôi hỏi đi hỏi lại nhiều lần với những người đã gặp là: tại sao không nghĩ tới việc vào các vùng đất an ninh, phì nhiêu ở Nam lập nghiệp? Tất cả đều nói: chúng tôi chờ đợi trở về. Trở về, họ như gắn liền với đất đai khô khan cực nhọc, họ không muốn rời khỏi quê hương nơi có những mái tranh nghèo, những mồ mả tổ tiên, nơi họ đã sinh ra lớn lên trong nhọc nhằn. Trước đây, ngay từ thời Đệ nhất Cộng hòa, công việc di dân lập ấp được đặt ra, dân chúng tại đây cũng đã từ khước ra đi, ngày nay họ vẫn không thay đổi ý muốn đó. Chừng như quê hương càng đau khổ, đời sống càng nhọc nhằn người dân càng gắn bó keo sơn với nó. Vùng Gia Đẳng, Gia Hải… những vùng cát trắng khô khan kia vẫn còn lại những gì mà người dân thấy không thể bỏ nó mà ra đi được cho dù họ biết chắc rằng ra đi họ sẽ có một nơi sung sướng hơn, đầy đủ hơn.

muahedolua
Những gia đình với hành lý nghèo nàn người dân ở trong trại tạm cư chia nhau những diện tích nhỏ hẹp để sống, những trẻ con vẫn nô rỡn trên bãi cát, những bà mẹ vẫn nhẫn nại nhóm những bếp lửa nhỏ lo bữa ăn đạm bạc hàng ngày. Tôi thấy chiếc áo màu của một sinh viên ra đây lo cứu trợ như lạc lõng với khung cảnh.
Trại tạm cư Hòa Khánh lớn lao hơn nhiều trại tạm cư dành cho người thuộc quận Gio Linh. Nơi đây bao gồm dân chúng thuộc nhiều quận, phần lớn họ được sống trong những ngôi nhà tôn của một trại binh Mỹ. Những con đường trong trại tráng nhựa phẳng lì còn tốt nguyên vẹn, nhưng những ngôi nhà thì phần lớn đã hư vì thời gian, nhiều vách gỗ đã bị gỡ, những bao cát phần lớn đã mục khiến cho khung cảnh có vẻ điêu tàn. Ngay trong những ngã tư đã có những hàng quán giải khát, dân chúng như đã thấy bắt tay ngay vào việc tìm sống. Nhiều người lo đi tìm kiếm những người quen, người ra kẻ vào tấp nập. Đại tá Hòa, người tôi gặp lúc ông cầm đầu một phái đoàn, là vị tỉnh trưởng Quảng Trị. Ông mới về làm tỉnh trưởng được ba tháng, nay ông đã ở Đà Nẵng với những người tị nạn. Trông ông thấy phảng phất một vẻ buồn. Dân số Quảng Trị có hơn ba trăm ngàn, con số còn bị kẹt lại khoảng 50 ngàn, tôi thấy số dân chúng ra đi thật lớn lao và thực sự là đau đầu với chính người cộng sản khi tới chiếm Quảng Trị. Họ phải nói thế nào với quốc tế và điều họ vẫn nói: dân chúng ủng hộ họ và về chiêu bài giải phóng vẫn không ngớt được nói đến. Không, dân chúng đã ra đi khi bom đạn và người cộng sản đến. Không có dân, đất đai còn có nghĩa gì nữa?
KinhHoang-02Người thanh niên ấy có nước da ngăm đen, vẻ ngơ ngác trên mắt nhìn, gò má cao, cằm vuông anh hơi chút mỉm cười ngậm ngùi khi tôi hỏi anh về chuyến hành trình đã trải qua. Anh lặng đi rất lâu, giọng anh trầm xuống, có lúc tôi chỉ thấy môi anh mấp máy và như tiếng nói biến mất: trước hết chúng tôi về Quảng Trị, thực chúng tôi không nghĩ có lúc sẽ ở đây, nếu biết vậy chúng tôi đã đi thẳng tới đây, chúng tôi không ai nghĩ thế cả, nhưng rồi chúng tôi phải đi khỏi Quảng Trị, ngày đó là ngày mấy nhỉ, không rõ là 28 hay 29 gì đó, mà chừng như…, phải rồi, pháo kích, rồi mìn anh ạ, rồi cả một cuộc giao tranh nữa, những chiếc xe nổ tung, những thân người văng lên, tan tác những tiếng kêu khóc thảm thiết, mạnh ai nấy chạy, không còn ai nghĩ tới chuyện cứu ai nữa… Chúng tôi chạy, chỉ biết chạy thế thôi… với hai bàn chân chúng tôi tiếp tục đi, trước hết là Huế, sau tiếp tục đi nữa, không, anh không thể hiểu được nếu anh không cùng chúng tôi trong chuyến ra đi ấy, chúng tôi có cảm tưởng như ngay sau chân chúng tôi cộng sản bén gót. Chúng tôi như tranh nhau lấn bước về phía trước, người ta có phương tiện để đi, chúng tôi thì không, quốc lộ như thế mà bốn hàng xe chạy thì anh thử hỏi làm sao chúng tôi len chân, và trên dọc đường ấy người ta như đứng lại với nhau, không còn trật tự nữa, thỉnh thoảng súng lại nổ và người nháo nhác… Tôi đã thấy ngay trước mắt tôi chiếc xe lật xuống đèo và những người chết, tôi đã thấy những bà mẹ kêu gào tìm đứa con thất lạc… Tôi không hiểu tại sao sự việc lại xảy ra như thế, bây giờ nhìn lại tôi càng thấy vô lý, bọn nó chưa tới được vòng đai mà sao mình đã bỏ lại hết để chạy… Tôi lạc mất một người em gái, cho đến hôm nay tôi vẫn không hiểu nó còn sống hay đã chết phơi xác dọc theo quốc lộ…
Người thanh niên lặng đi, đôi mắt nhìn xuống trũng bóng tối. Tôi không còn biết có lời nào để nói với anh. Tôi nhớ lời anh Cường kể lại chuyến đi của chính anh, thực anh chưa muốn đi nhưng sau nhìn lại thấy mọi người đi hết thì anh sợ, người anh nghĩ chưa đi là anh Du thì anh đã thấy lên trực thăng đi rồi, cuối cùng anh phải đi chiếc xe cũ đưa anh lên đèo nhích từng chút, có lúc xe không đứng lại được mà tụt xuống, đi từ sáng cho mãi tới 9 giờ tối mới vào tới Đà Nẵng, trên đường anh đã thấy những người lính nổ súng bắt xe cho họ lên, anh đã thấy một bà cụ già ngồi trên một tấm gỗ có gắn bánh xe tay bám lấy chiếc dây thừng buộc vào chiếc xe đạp của người con đạp phía trước… Mường tượng tới cảnh ra đi, quãng đường Quảng Trị-Huế-Đà Nẵng trở thành một cuộc trường chinh cho người dân Trị Thiên, tôi nghĩ nếu con đường đèo bị cắt, hay một cuộc phục kích xảy ra thì họ sẽ ra sao?

Trời mưa nhỏ hạt suốt đêm, sáng hôm sau trời vẫn thấp mây, tôi mang theo hành lý để tới Huế như dự định, trước khi đi tôi ghé lại thăm anh Lam, tôi nghĩ anh nắm được nhiều dữ kiện về những sự việc đã xảy ra. Tôi thấy anh hết sức bình tĩnh và nói với tôi về công việc anh đang làm, giúp vào công việc đưa dân chúng Quảng Trị vào miền Nam theo chương trình di dân khẩn hoang của chính phủ, anh cho thấy dân chúng không muốn đi riêng, họ muốn đi cả quận, cả làng. Anh cũng nói tới hoạt động của các đảng phái một cách lạc quan. Khi hỏi anh: ai ra lệnh rút khỏi Quảng Trị, anh nói không phải Tướng Lãm ra lệnh. Anh cười khi đặt với tôi một vài vấn đề sau khi rút khỏi phần đất này, việc oanh tạc Bắc Việt, việc thả thủy lôi xuống các cửa biển và sông ngòi miền Bắc…

Tôi ra bến xe, trời mưa nhỏ, tôi chờ cho những chuyến xe từ Huế vào tới nơi thì leo xe trở ra. Tôi thường theo cách đó để có thể yên tâm lên đường mỗi khi ra đây công tác. Chuyến xe quen thuộc màu đen với mười chỗ ngồi, số người trở ra Huế chờ đợi từng chuyến xe đến và trong chốc lát lên đường trở ra. Đường ra khỏi thị xã xe cộ đủ loại nối đuôi nhau, có hàng trăm xe vận tải đưa đạn vượt qua đèo. Trước khi tới cầu Nam Ô xe bị đọng lại với sự chờ đợi oi bức, xe nhích từng khoảng ngắn. Khi ngang qua tôi thấy dòng sông rộng. Cây cầu xi măng bị hư một nhịp đang được sửa chữa và hiện có một cầu tạm bắc lên cho xe cộ lưu thông. Cầu Nam Ô là cây cầu xe lộ độc nhất được hãng thầu Mỹ làm cho suốt dọc quốc lộ từ Đà Nẵng tới Huế, cầu Lăng Cô là cầu cũ được sửa lại, còn hầu hết những cây cầu khác được làm bằng gỗ ở đây đã bị phá sập, những chiến sĩ công binh đang lo đắp một con đường vòng và sửa lại cây cầu. Chiếc xe tôi đi chạy hơi ra ngoài bị chận lại, như một hình phạt không được qua, người tài xế bứt đầu bứt tai nhìn những chiếc xe chạy sau vượt lên phía trước, tôi thấy nhiều xe chở hàng không có mui chở đầy người, đó là những gia đình ở Huế trở lại nhà, họ mang những hành lý. Có những chiếc xe có mui thì người ngồi cả trên mui cao, trên quãng đường này tôi cũng thấy nhiều xe chạy đường xuyên Việt, từ Quảng Trị tới Sàigòn, nhưng vì biến cố trong những ngày qua đã khiến cho những chuyến xe này không thể trở lại Sàigòn được. Những chuyến xe sẽ thương nhớ đường dài… Mưa vẫn đổ mau hạt trong khi xe qua đèo, con đường rộng, nhựa phẳng trở thành nguy hiểm, tôi nghĩ tới những ngày tháng trước khi đoàn người tỵ nạn phải ngang qua đây. Một trăm cây số của đường dài những lo âu chất ngất và nỗi kinh hoàng nhìn về ngày mai… Vùng biển Lăng Cô làm tôi nhớ lại mộng ước được về sống trong một xóm dân chài của Ninh Hòa, hai tiếng Hòn Khói vẫn còn ghi nhớ với những cồn cát trắng như tuyết và những ngọn dương cao cùng với biển xanh bao la phía trước… Quê hương ta những vùng đất hứa có thật vẫn còn đó nhưng chừng như lúc nào cũng ở ngoài tầm tay với…

5774192620120330161511828

Cầu Phú Lưu bị sập nhưng vẫn di chuyển một chiều, khoảng đường từ phía chân đèo trở lại Huế tôi thấy nhiều binh sĩ thuộc Sư đoàn 3, họ có mặt nơi những chiếc cầu còn lại. Trên một thành cầu sắt của đường xe lửa tôi nhìn thấy hàng chữ: bảo vệ cây cầu tới giọt máu cuối cùng. Tôi buồn rầu nghĩ tới những cây cầu đã gãy. Tôi nghĩ tới những cây cầu gỗ trên quốc lộ 9 nối Đông Hà tới biên giới và trên quốc lộ 1 Gio Linh tới Đà Nẵng.

Năm 1968, khi tôi theo quốc lộ 9 lên Cam Lộ, nơi có trên 6 ngàn dân chúng quận Hướng Hóa từ trong núi về tị nạn, trong số này phần lớn là sắc tộc Bru. Bấy giờ trận chiến ác liệt ở Khe Sanh, trong khi xe ủi đất Mỹ làm việc không ngừng, họ mở rộng đường trải đá, trải nhựa và làm cầu. Tôi tự hỏi như vậy có phải con đường sẽ được dùng để sang Lào không? Năm 1970 trở lại, cả vùng đã hết lính Mỹ, chúng tôi dùng xe díp chạy từ Quảng Trị lên Cam Lộ uống cà phê và nói chuyện hòa bình, ngày lên xin đất mở đồn điền trên Khe Sanh… Tôi nghĩ tới những cây cầu và hỏi: những cây cầu bằng gỗ này chịu đựng được bao nhiêu năm? Tại sao không phải là cầu xi măng? Không ai trả lời. Và tôi cũng đã hỏi: sao Mỹ làm con đường này tốt vậy mà không dùng? Và câu trả lời mãi tới khi có cuộc hành quân sang hạ Lào tôi mới thấy, mỗi ngày hàng trăm xe đạn dược theo đó mà tới Khe Sanh. Nói tiếp về những cây cầu tôi cũng thấy từ Gio Linh vào Huế chỉ có một cây cầu mới đúc, còn hầu hết là cầu gỗ. Và bây giờ tôi lập lại câu hỏi: những cây cầu chưa bị phá sẽ còn chịu đựng được bao nhiêu lâu?

Phú Lộc, La Sơn, Phú Bài, Phú Lương, Dạ Lê, An Cựu… và cầu Trường Tiền. Huế vẫn còn đó, một sinh hoạt lặng lẽ, nhiều căn nhà cửa đóng nhưng có toán công nhân sửa đường vẫn làm việc, những người thợ nề vẫn tiếp tục chát vôi nơi bệnh viện trung ương đang xây cất… Hoa phượng đỏ như máu trên những con đường hai bên bờ sông, trong Thành nội, ghe thuyền đầy trong lòng sông nhà bè và vùng Bao Vinh không khí như thưở thanh bình, tôi nghe thấy một không khí chìm chìm nhưng đầy đe dọa. Tôi tìm gặp lại những người bạn cũ, gần hết đã ra đi. Anh Tấn bây giờ nuôi râu dài như một đạo sĩ, anh Du như già hơn mấy tuổi, anh nói lại một ngày từ sở làm ra đường tìm xe về nhà, phố vắng tanh, không một chuyến xe khiến anh ngao ngán thấy mình như con chó hoang, và mắt anh như rưng rưng khi kể lại chuyến bay đưa anh khỏi Thành nội trong không khí nháo nhác tan vỡ. Bây giờ thì anh đã trở về một mình sống như mình muốn sống. Thục nói: ở lại với ý nghĩ ngông cuồng làm kẻ tuẫn đạo… Liệu có mất Huế không?

Cộng sản có đánh Huế không? Tại sao Huế không bị pháo kích? Những câu hỏi đặt ra mà không ai dám trả lời khẳng định, ai cũng có ý kiến nhưng sao đó là cái mỉm cười ngụ ý… Thành phố đầy những lính, đủ màu áo, hình như không thiếu một binh chủng nào, ít hoặc nhiều họ đều có mặt. Tôi gặp lại những người bạn trong quân đội những ngày cũ. Những hàn huyên không hết về kẻ sống người chết, những người ở An Hậu, những ngày ở Phú Thứ, những ngày trong Dãy Phố Buồn Hiu, những ngày ở Khe Sanh, những ngày rong chơi yên bình trong những làng xóm ở Triệu Phong nói chuyện về những nàng cung phi sinh trưởng ở Sải, và vẻ đẹp tây phương của những cô gái ở Mỹ Chánh, dòng sông mà người bạn tôi nói nửa đục nửa xanh, nơi những thuyền bè tây phương từ thế kỷ trước đã vào đó…

Trên máy bay nhìn xuống quốc lộ 1 chỉ thấy một dòng xuôi về Nam hỗn độn…

Buổi chiều mưa thật lớn, người bạn nói với tôi cơn bão đang tiến tới. Một người bạn nói với tôi về Huế: đất gì lạ, một năm ở đây thì có ba tháng để tranh đấu, ba tháng để chịu tai ương, ba tháng để cứu trợ, còn ba tháng để làm thơ. Điều người bạn nói thực đúng với thời gian 10 năm trở lại đây, Huế đầy những tai ương và đau khổ, cơn ác mộng Mậu Thân với hàng ngàn người bị chôn sống vẫn còn ám ảnh tôi những người sống sót, đó là một trong những điều giải thích vì sao họ đã lũ lượt kéo nhau ra khỏi Huế dù thực sự chiến tranh chưa đến.

quangtri-1972-bettmannTôi theo xe người bạn ra khỏi Huế, hiện đang có những cuộc chuyển quân vào phía Tây và phía Bắc, những chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã đột kích ba lần vào vùng đất Quảng Trị, nhưng sông Mỹ Chánh vẫn là chiến tuyến. Quốc lộ 1 chạy về phía Bắc vắng hoe, chỉ có những xe nhà binh di chuyển với vận tốc nhanh hơn thường ngày, những cánh đồng ở Hương Điền vẫn có bóng người nông phu, thiên nhiên vẫn như một ngày thanh bình cũ. Trong phòng tuyến, tôi hỏi một anh bạn: bao giờ qua bên kia? Người bạn cười, định qua rồi nhưng mưa nên ngừng. Sao vậy? Hết mùi thối rồi… Tôi không hiểu. Người bạn nói: Mấy hôm trời nắng, gió Nam thổi hôi quá chịu không nổi tính hành quân để chôn xác chết của mấy trận, nhưng mưa rồi nên đỡ.

Tôi rùng người và thấy như đầy mùi tử khí. Tôi mường tượng tới khoảng đường còn lại để tới Quảng Trị, những làng mạc và đồng ruộng ngày nay còn ngổn ngang những xác người đã nằm xuống trong những ngày trước, nắng lửa làm cho những tử thi trương lên và bây giờ những cơn mưa làm cho tan rã… Đêm lại cơn mưa lớn. Tôi cùng người bạn ngồi trong quán cà phê, chút rượu khiến cho chúng tôi ngây ngất. Trên chiếc xe nhỏ chúng tôi đi trên những con đường vắng không có bóng người, chỉ có những tàn cây và bóng tối, thỉnh thoảng mới gặp những người lính ướt nước. Tường thành lầm lì, những bãi cỏ tranh cao với bông trắng, tất cả như thầm thì một tâm sự. Không khí lặng như một cõi chết nào. Thiên nhiên kia còn nghĩa gì khi không còn những mắt nhìn chan chứa, không còn nhịp tim rộn ràng? Tôi như nghe thấy tiếng thở dài của những cánh sen hồng về nỗi tàn tạ. Mùa hè đã đến rồi đấy nhưng như đã mất vì không có tiếng guốc khuya trên cầu, hoa phượng đã nở đỏ nhưng không còn là màu của nắng lửa, nó trở thành những vũng máu đọng chờ khô của một cái chết.

Người bạn nói: Tôi ở lại đây và tôi chờ ngày vào Quảng Trị.

Tôi nhìn người bạn.

Nguồn : Nhật Ký Chiến Tranh: Quảng Trị 1972 – Blog Vương Trí Nhàn

4 comments

  1. ovv

    Trị giá của một chiến thắng

    Phan Nhật Nam

    Ngày 14 tháng 9, năm 1972 cách đây đúng 30 năm tại Thị Xã Quảng Trị, thành phố cực Bắc của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, đã diễn ra trận chiến của giai đoạn cuối cùng, quyết định đối với hình thái quân sự, để từ đó kết thúc vận mệnh chính trị Miền Nam, giải quyết vấn đề Việt Nam. Chiến trận mở đầu cuộc tổng công kích toàn miền Nam do Bộ Tổng Quân Ủy Hà Nội trực tiếp chỉ huy mang danh hiệu Nguyễn Huệ với ba điểm mục tiêu: Quảng Trị, An Lộc (Bình Long) và Kontum, Tây Nguyên. Hôm nay, chúng ta chỉ giới hạn với mục tiêu vùng trận địa nam sông Bến Hải thuộc hai tỉnh Quảng Trị – Thừa Thiên. Ðúng vào trưa ngày Lễ Phục Sinh, 30 tháng 3, 1972 hệ thống pháo, cối, hỏa tiễn cộng sản gồm súng cối 82 ly, hỏa tiễn 122 ly, pháo 122, 130 ly, và 152 ly đồng loạt đổ xuống năm căn cứ hỏa lực do các Trung Ðoàn 2, 56, 57 Sư Ðoàn 3 Bộ Binh, Lữ Ðoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến, và Liên Ðoàn 1 Biệt Ðộng Quân trấn giữ – phần đất phía nam khu Phi Quân Sự ngăn đôi hai miền Nam-Bắc, chạy dài từ bờ biển vào biên giới Lào Việt. Cùng ngày, cùng giờ, căn cứ Aùi Tử, bản doanh Sư Ðoàn 3, đơn vị chỉ huy tổng quát lực lượng mặt trận giới tuyến cũng cũng chịu chung một hoàn cảnh thụ động tan tác – nằm im hứng đạn pháo. Bởi một điều đau đớn khắc nghiệt đã xẩy ra và không phương cứu vãn: Pháo binh quân lực Miền Nam không có khả năng phản pháo đến những vị trí pháo kia của bộ đội Miền Bắc vì tầm bắn ngắn hơn – mà dẫu có với tới đi chăng nữa thì cũng không chắc phá hũy được vì những vị trí pháo nầy đã được thiết lập, củng cố, bảo trì từ sau Mậu Thân 1968, rút kinh nnghiệm từ trận Hạ Lào, Khe Sanh (1971). Nương theo đợt pháo kích kéo dài liên tục trong suốt 6 ngày kể từ ngày giờ kể trên, một lực lượng gồm hai Sư Ðoàn 304, 308 bộ binh phối hợp cùng những trung đoàn địa phương, đặc công, độc lập của Mặt Trận B5, có sư đoàn 324 B làm trừ bị (mặt trận vùng Trị-Thiên do Bộ Tổng Quân Ủy Hà Nội đặt ám danh) có khoảng 200 xe tăng tùng thiết, đồng loạt tấn công những vị trí hỏa lực của quân đội Miền Nam. Cần nói rõ thêm, Sư Ðoàn 3 Bộ Binh lại là một đơn vị tân lập, số đông binh sĩ (kể cả sĩ quan) là thành phầân quân phạm, hoặc lao công đào binh, nên đơn vị thiếu hẳn khả năng, kinh nghiệm chiến đấu trên những chiến truờng quy mô – Thế nên, việc rút bỏ Quảng Trị vào những ngày cuối tháng Ba phải xẩy đến như một điều hẳn nhiên, sau khi dãy căn cứ hỏa lực tiền phương Nam sông Bến Hải bị phá vỡ. Nhưng lần lui binh bi thảm tàn khốc nầy được ngừng lại tại phòng tuyến sông Mỹ Chánh (địa giới thiên nhiên giữa Quảng Trị – Thừa thiên) với Tiểu Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến chỉ huy bởi TrungTá Nguyễn Xuân Phúc. Ðơn vị và người chỉ huy được đánh giá là biễu tượng hàng đầu của sức chiến đấu quân lực Miền Nam – Không chỉ từ phía dân, quân VNCH mà chính bởi thành phần cán binh bộ đội cộng sản khi vào khi đoạt chiếm phần đất nầy (tháng Ba 1975) qua lần báo thù sát hại không nương tay đối với “Trâu Ðiên- Tiểu Ðoàn 2 TQLC”.
    Từ phòng tuyến Mỹ Chánh, ngày 28 tháng 6, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn ra lệnh khai diễn chiến dịch tái chiếm Quảng Trị với kế họach Lôi Phong trãi một màn lưới lửa, bão thép tới mục tiêu cuối cùng – Cổ Thành Ðinh Công Tráng, khối gạch nung mỗi cạnh dài 500 thước, với năm thước cao và bề dày- lên tới hai bờ nam, bắc sông Bến Hải; từ bờ biển vào sâu trong Trường Sơn, dọc theo đường tiếp vận của Bắc quân với huy động tất cả hỏa lực, phi pháo có được ở đất liền, ngoài biển Ðông: Hạm Ðội 7, những phi cơ B52 nơi các phi trường Guam, ngoài khơi Thái Bình Dương, hoặc ở Utapao, Udon, Thái Lan. Vào giai đoạn Hai của Lôi Phong, trong suốt 48 giờ kể từ 12 tháng 9, không quân chiến lược B52 liên tục trải thảm từ sông Thạch Hãn (bắc cổ thành) đến Ðông Hà (Bắc Quảng Trị 50 cây-số) để dập nát tất cả vị trí pháo binh, hoả tiễn, bộ chỉ huy, điểm tiếp vận của phía cộng sản; tiếp đến hải pháo từ Hạm Ðội 7 bắn vào các điểm nghi ngờ vào những lúc phi cơ tạm rời vùng; pháo binh diện địa 175 ly từ Phong Ðiền tăng cường quấy rối, đặc biệt chiếu cố thật kỹ vị trí toạ độ cổ thành; 12 khẩu đại bác 155 ly, 54 khẩu 105 ly cơ hữu của Sư Ðoàn TQLC được lệnh tác xạ không ngừng một phút, pháo thủ chỉ thay nhau ngủ vài giờ nửa đêm, từng khẩu pháo được điều chỉnh để không một trái đạn rớt ra ngoài bờ thành. Tám tiểu đoàn của hai Lữ Ðoàn 147, và 369 TQLC sau khi thay thế lực lượng nhảy dù kể từ ngày 27, tháng 7, đã chiến đấu qua từng tấc, từng phân vuông của mục tiêu chiến trận để tiến tới khu vực cổ thành. Và trong 48 giờ cuối cùng nầy, người lính giữa cảnh chết, vượt sự chếtđã tiến lên, xốc tới để xác chứng minh cùng lịch sử, quốc dân, cùng thế giới: QUÂN LỰC VNCH LÀ MỘT QUÂN ÐỘI CÓ SỨC CHIẾN ÐẤU THẦN KỲ VÀ HỌ ÐÃ OAI HÙNG CHIẾN THẮNG.

    Rất nhiều quân lực, binh đoàn của lịch sử thế giới được nhở sau chiến tích. Nhưng quân đội VNCH đã bị lãng quên. Rất nhiều đơn vị được tuyên công. Nhưng tập thể quân đội VNCH đã bị xúc phạm. Nhiều đoạn quân sử hằng hằng ca ngợi biểu dương. Nhưng thật có một đời dài chiến đấu bị xóa bỏ và tàn nhẫn hạ nhục. Ðơn vị đó là của Chúng Ta. Tập thể đó là Chúng Ta. Ðoạn quân sử bi hùng đó do chính Chúng Ta viết nên bằng xương máu của triệu người Việt Nam chết thảm, với mỗi Ðơn Vị, của từng Người Lính.

    Nhưng bởi trị giá của chiến thắng lẫm liệt ngày 14 tháng 9, 1972 vừa kể trên chỉ được xem như là viên đá tảng giúp người Mỹ đặt xuống bàn hội nghị tại Paris để hoàn thành Hiệp Ðịnh Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam (đúng thời hạn dự dịnh, tháng 10) trước kỳ bầu cữ tổng thống Mỹ – qua nhận định tự tin, đắc chí của Ngoại Trưởng Kissinger:“Quả thật, chưa bao giờ chúng ta có được vị thế thượng phong như thế khi bàn thảo trong giai đoạn chiến tranh. Bởi vì ngày 15 tháng 9, quân lực miền Nam đã chiếm lại QuảngTrị, thị xã bị mất vào tay Hà nội trong cuộc tấn công trước đây”(*).Hoặc chỉ để Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mạnh dạn tuyên bố (đối với những áp đặt của chính phủ Mỹ) trong ngày 20 cùng tháng vào buổi lễ mừng chiến thắng ở Huế: “không ai có quyền bàn thảo và chấp nhận một giải pháp”, ngoại trừ dân chúng Miền Nam”(**). Trong khi cả hai cùng biết rõ rằng: Vào giai đoạn bản văn hiệp định sắp sửa hoàn thành thì cộng sản Hà Nội đã lợi dụng cơ hội, công khai đưa vào Nam khối lượng lớn quân trang, quân cụ, vũ khí, nhân, vật lực để chuẩn bị lần xâm lược toàn diện; như chỉ trong một ngày 26 của tháng Hai, 1973 một số lượng gồm 175 xe vận tải chở đầy người, vũ khí bình thản vượt qua sông Bến Hải, vùng Phi Quân Sự, hoặc 223 chiến xa đi ngã đường mòn Hồ Chí Minh, chạy ngang đất Lào. Bởi cả hai phía (Mỹ lẫn Việt) đồng quan niệm: “Chiến thắng quân sự kia chỉ giúp họ thế mạnh chính trị, giữ vị trí quyền lực lâu thêm một đoạn thời gian”, chứ không là cơ hội xây dựng, củng cố đội ngũ chiến đấu cho Miền Nam, của lực lượng bảo vệ Tự Do-Dân Chủ.” Thế nên, thất bại ngày 30 tháng Tư 1975 không riêng đối với Dân Tộc Việt, người Miền Nam nhưng là hiện thực lần chiến thắng của Bạo Lực và sự khiếp nhược tinh thần của toàn thế giới đã im lặng đồng lõa đối với Sự Ác. Hãy nhìn vào tình cảnh lầm than, đau thương đã xẩy ra đối những dân tộc trên bán đảo Ðông Dương, ở Nicaragua, Salvador, Rawanda, Ethiopia, Apghanistan.. Chính sách khủng bố đang tràn lan khắp địa cầu hiện tại không là hiện tượng ngẫu nhiên, đột phát. Riêng những người lãnh đạo Miền Nam thì tự thân bày ra mục tiêu cá nhân mà lâu nay họ che dấu dưới những chiêu bài “quốc gia, tự do, dân chủ” – Họ không nghĩ tới, không đủ sức đi tới cùng đích cao cả của Lịch Sử, hoàn tất sứ mệnh lớn lao của toàn Dân Tộc: Sống-Chiến Ðấu để Bảo Vệ Tự Do – Phẩm Giá Con Người. Những cụm danh từ, tỉnh từ hàm súc, thiêng liêng nầy nầy hoàn toàn không là chữ nghĩa, khẩu hiệu suông – Chúng được xác chứng với máu, xương của lớp lớp Người Việt liên lũy ngày, đêm (kể từ 30 tháng 4 đến 14 tháng 9, 1972 và tiếp theo cho mải đến ngày 30 tháng 4, 1975) nằm chung với xác chết (nếu như họ chưa phải chịu cơn lâm tử rất chắc chắn xẩy ra ở phút, giờ kế tiếp), hít thở không khí đầm đìa mùi người chết, uống nước hố bom lây lất máu thịt thây người. Nhưng những con người trong hoàn cảnh nguy nan kiệt cùng kia vẫn sắc son, bền bỉ lòng tin: “Mình về Quảng Trị. Mình ở lại cùng Quảng Trị bởi lính mình đã đổ bộ nơi Mỹ Thủy, ở Hải Lăng, lấy lại Cổ Thành…”

    THẾ NÊN, GIÁ TRỊ CHIẾN THẮNG 19 THÁNG 4, 1972 Ở QUẢNG TRỊ VẪN SỐNG MÃI TRONG LÒNG MỖI NGUỜI DÂN NƯỚC VIỆT. NƠI MIỀN NAM.

    (*ø**): White House Years, Henry Kissinger, Little, Brown Co, 1979; pp 1333, 1335.

    Phan Nhật Nam
    MN, 9 tháng 9, 2002.

    Like

  2. Pingback: Mục Lục ovv | Chiêu Anh Quán
  3. Pingback: Quảng Trị, đất đợi về | dòng sông cũ
  4. Pingback: Trị giá của một chiến thắng | dòng sông cũ

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s