Tôi học và hành nghề chuyên viên kinh tế như thế nào ?

THẻ Sinh Viên ĐẠi Học Luật Khoa  ( Hình minh họa )

Thẻ Sinh Viên ĐẠi Học Luật Khoa ( Hình minh họa )

Nhận lời viết bài cho kỷ yếu kỳ này, tôi muốn theo gương Giáo Sư Vũ Quốc Thúc (a) viết về việc tôi đã học Kinh tế, và qua năm tháng, đã lấy kinh tế học làm sinh kế ra sao. Mục đính là muốn chia sẻ kinh nghiệm với các bạn trẻ muốn học và làm việc như một chuyên viên kinh tế, nhưng trên hết, tôi muốn gởi bài này đến các Giáo sư trường luật Sàigòn, đặc biệt là Giáo Sư Vũ Quốc Thúc, như một lời tri ân vì những sự giúp đỡ chân tình trong tình sư đệ.

Trường Luật ngày tháng cũ.

Trường Luật ngày tháng cũ là những ngày tháng êm đềm của tuổi 20. Nơi đó đã cho tôi nhiều kỹ niệm, và tôi đã gặp những người bạn quí mà tôi vẫn giử liên lạc cho đến bây giờ. Ðó cũng là khi tôi theo đoàn sinh viên Ðại học Hà Nội di cư vào Sài Gòn để thấy Sài gòn một khung trời rộng mở, khác với Hà Nội chật hẹp với một xã hội tiểu tư sản tù túng.
Tôi học kinh tế qua hai chặng đường, một ở Việt nam (Cao học I và II) và sau đó ở Hoa Kỳ (MA và Ph.D). Cả hai chặng đường, với chương trình khác nhau, đã cho tôi những kinh nghiệm và nhận thức khác nhau, rất có ích cho công việc về sau này.
Tôi bắt đầu học Kinh Tế Học từ năm 1954 trong chương trình Cử Nhân Luật( chế độ 3 năm). Nhưng sự hiểu biết về Kinh Tế Học của tôi đến rất chậm, có lẽ chỉ sau năm thứ ba, và phần nhiều do sự tình cờ đọc một số sách ở ngoài nhà trường.
Chương Trình Cử Nhân thời ấy là chương trình phỏng theo chương trình bên Pháp, và sách ở Thư viện cũng là sách Pháp. Các môn học về luật thì có nội dung khá cụ thể, còn phần kinh tế học, nói chung rất khó cho sinh viên nắm được nội dung ra sao, và học để làm gì.
Giáo sư đầu tiên là G.S Kherian, sau đó về Pháp khi Ðại học được trao trả cho Việt Nam. Giáo sư Vũ Quốc Thúc thay thế làm Khoa Trưởng. Các sách giáo khoa của Pháp (là căn cứ cho các bài giảng) về Kinh Tế Học lúc đó là các bộ sách dày (traité) như cuốn Marchal vv.Loại sách này đưa ra cách tiếp cận (approach) kinh tế học qua lý thuyết giá trị (theorie de la valeur) trừu tượng, làm nản lòng người mới học nhập môn kinh tế học.

Lựa chọn ngành Kinh Tế

Tôi bắt đầu hơi hiểu nội dung môn Kinh Tế Học lúc học Cao học và nhờ vào hai sự kiện :(1) học với các Giáo Sư Vũ Quốc Thúc, Giáo Sư Nguyễn Cao Hách và Giáo Sư Châu Tiến Khương và (2) tôi bắt đầu đọc rất nhiều sách kinh tế tiếng Anh.
Lý do tôi chọn Cao Học Kinh Tế mà không theo Cao Học Luật vì không muốn làm Thẩm Phán hay Luật Sư. Một phần do mẹ tôi không muốn tôi làm những nghề Mẹ tôi cho là “thất đức”, thí dụ làm Thẩm Phán, nếu quyết định sai lầm sẽ bị “báo oán”, hoặc làm “Thầy cãi” nghe nói có thể “đổi trắng thay đen”. Phần khác là do những năm học Luật tôi thường đọc “Pháp Lý Tập San”, thấy rất hay nhưng đồng thời cũng nghĩ: Thôi chết! Những bản án, hay những biện minh trạng, viết công phu như thế này mà nếu không được đăng trên Tập san thì chắc sẽ nằm đâu đó dưới hầm các toà án; nói cách khác, nếu theo nghề luật thì suốt đời sẽ bỏ công soạn những tác phẩm như thế chỉ để cho vài người quan toà đọc mà thôi. Cuối cùng, tôi đã không theo những nghề Luật vừa kể khi mới ngoài hai mươi tuổi, vì thấy hình ảnh của những bạn đồng học theo nghề luật hay làm công chức Bộ Ngoại Giao có vẻ không hạp với tánh ham chơi của tôi.
Và thế là tôi chuyển qua Kinh Tế Học với bài giảng Cao học đầu tiên của Giáo Sư Vũ Quốc Thúc về các lý thuyết phát triển kinh tế. Quả đúng là “danh bất hư truyền”. Giáo sư Thúc, lúc đó cũng như sau này, là một Giáo sư và một chuyên gia có sự trình bày sáng sủa, rõ ràng (clair) nhất. Tôi đã học ở Ông phong cách (sáng sủa) này, và suốt những năm làm chuyên viên tôi vẫn gắng noi theo. Một điều nửa rất đáng khâm phục là mặc dầu được đào tạo trong hệ thống Pháp nhưng ông đã nhìn xa trông rộng, và ngay từ những năm cuối thập niên 1950 Ông đã bỏ công đọc những sách cập nhật tư tưởng kinh tế bằng Anh ngữ để dạy cho bậc Cao học. Thật là đáng quý, và như thế có lẽ các bài giảng “doctorat” của Ðại Học Việt Nam lúc ấy tiến bộ hơn bên Pháp, (như tôi biết ba năm sau đó, khi tôi qua Pháp xin nộp Luận án), bởi vì Giáo Sư Thúc đã dùng những sách mới nhất lúc bấy giờ về môn Phát Triển Kinh Tế (Artur Lewis, Ragnar Nurkse, Abramovitz) cho sinh viên đọc.

Các bài giảng của Giáo Sư Thúc khiến tôi bắt đầu thấy hứng thú và nghĩ có lẽ Kinh Tế Học cũng có thể là một ngành chuyên môn có ích.

Giáo Sư Nguyễn Cao Hách là người khiến tôi rất “ấn tượng”. Không phải vì cách nói, viết, sáng sủa nhưng là cái tinh thần học giả (erudition) của ông. Cũng như Giáo Sư Thúc, được đào tạo trong hệ thống Pháp, nhưng Ông đã nhìn thấy Kinh Tế Học Mới (modern econonics) phần lớn do các tác giả nói tiếng Anh. Không những Ông đọc sách tiếng Anh, còn giảng bài ở bậc Cao Học bằng Anh ngữ, và dùng những sách mới nhất vào thời ấy như John Due, Richard Musgrave, (cũng là những sách tôi dùng lại khi qua Mỹ du học sau này). Tôi vẫn nhớ lớp học môn Public Finance của Ông, chỉ có bốn hay năm sinh viên theo học, trong một căn phòng nhỏ của trường Luật năm xưa. Ðó cũng là căn phòng Giáo Sư Thúc giảng bài.
Chính ở căn phòng này tôi bắt đầu tìm hiểu Kinh Tế Học là gì và học nó để làm gì?

Một vị giáo sư nữa của trường Luật tôi vẫn luôn nghĩ tới và giữ liên lạc hàng năm là GS Châu Tiến Khương, dạy Droit Maritime và Economie Rurale với những bài giảng rất tiêu biểu của hai môn học này. Ông đã cho tôi niềm tự tin khi Ông đề nghị tôi đi dạy ở các đại học khác thay cho ông, khi tôi mới chỉ có bằng Cao Học (b). Là người rất điềm đạm, Giáo Sư Khương thân với học trò, thể theo tinh thần đại học Pháp ông chỉ muốn coi mình là người anh lớn trong nghề (ainé) và có khi yêu cầu sinh viên đã ra trường xưng hô bằng Anh trong truyền thống này. Những năm gần đây khi trả lời thư chúc tết của tôi, ông thường trách tôi sao không nói đến những năm cùng là đồng sự với ông, lại chỉ nói đến những năm là sinh viên mà thôi. Ngoài lý do tôn kính của một sinh viên đối với giáo sư cũ, âu đó cũng là cái tâm thức học trò mà chắc ai cũng muốn nhắc đến nhiều hơn là hồi ức của người đã đi làm việc, mặc dầu số năm tôi đi dạy ở Trường Luật nhiều hơn những năm đi học ở đó.
Thật là ngạc nhiên, trong cái phong cách của một giáo sư đặc biệt Pháp, ít ai có thể ngờ G.S Khương lại thường dịch nhiều thơ Ðường ra quốc văn, và tôi cũng hân hạnh được ông gởi cho mấy bài.

Kinh tế học là gì và học để làm gì ?

Câu trả lời chỉ rõ ràng khi tôi học Cao Học bậc hai, với sự trùng hợp của hai sự kiện (1) có hai giáo sư ngoại quốc, một là người Anh tôi quên tên (sau này lại cùng làm việc với tôi ở Ngân hàng Thế Giới)và Giáo Sư người Mỹ, Frank Child, sau này là Khoa trưởng của Ðại Học California ở Davis, và (2) tôi đã “khám phá” ra hai cuốn sách của Samuelson (giải nobel 1970, vừa mất năm nay, 2009): cuốn Economics, sách giáo khoa đương thời ở Mỹ, và cuốn Foundations of Economics, nguyên là luận án Ph.D của Samuelson. Cuốn Economics này, như ai cũng biết, đã là sách giáo khoa trong nhiều thập kỷ ở Mỹ cũng như ở vài chục nước trên thế giới. Thường vẫn gọi là sách “baby Samuelson” vì nó dễ đọc hơn cuốn Foundations.

Khác với sách Traité của Marchal (Pháp), sách của Samuelson theo cách tiếp cận cụ thể: Ông nêu ra ba vấn đề căn bản của Kinh Tế Học là (1) sản xuất cái gì (2) sản xuất ra sao, và (3) sản xuất cho ai (phân phối lợi tức). Lý thuyết giá trị ở sách Marchal chính là căn bản của vấn đề 1, lý thuyết tiêu thụ. Và tất cả những phần chính của Kinh Tế Học đều gồm lại trong một lý thuyết toán học là lý thuyết tối ưu hoá với cưỡng chế (optimization subject to constraint), và điều này đã được trình bày trong sách Foundations. Khi tôi đọc được hai chương trong sách Foundations (tôi không đủ trình độ toán học lúc đó để đọc hết) và hiểu được điều trên thì tôi “ngộ” ra rằng Kinh Tế Học “có thể có thật” và có một nguyên lý xuyên suốt trình bày được bằng toán học (toán vi phân), chứ không chỉ là những bài giảng bằng lời văn. Ðó cũng là lý do tôi lựa ngành kinh tế định lượng khi du học ở Mỹ sau này (và có lẽ nhờ trình bày cách này trong bài làm 5 giờ để thi Cao Học II ở trường Luật, tôi đã được điểm rất cao).

Học ở ranh giới của kinh tế học

Ðó là những năm du học ở Mỹ (đại học Pensylvania trong hệ thống lvy League, có trường Wharton nhiều người biết) vào những năm sau của 1960’s.

Trước đó, đã nhiều lần tôi có học bổng đi học ở Ðức và Mỹ (Duke University), nhưng đã không tiện đi, vì muốn ở lại đi làm, giúp Bố Mẹ và các anh em. Ðến năm 1964 tôi quyết định đi du học vì hai lý do. Lý do thứ nhất có hơi hướng của tinh thần thuộc địa, và là thực tế lúc ấy cũng như bây giờ : Ở Việt nam nếu không có bằng cấp ngoại quốc thì dù giỏi cách mấy cũng sẽ vất vả, vì luôn luôn phải chứng tỏ mình giỏi không khác những người có bằng cấp ngoại quốc. Ðây cũng là kinh nghiệm cá nhân, vì trước khi khi du học tôi đã làm việc chung với nhóm chuyên viên học ở Pháp tập trung ở Tổng Nha Ngân Sách thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, và đã được đề nghị đồng hoá về ngạch Tham Vụ Chuyên môn dành cho chuyên viên du học về nước, nếu tôi ở lại tiếp tục làm việc (Tôi đã từ chối đề nghị này và bỏ đi du học).

Lý do thứ hai : Vị Giáo Sư Mỹ (Robert Johnson) thuộc Brookings Institution ở Vietnam mà Giáo Sư Thúc uỷ quyền để trông coi việc làm luận án Tiến Sĩ của tôi, đã thúc đẩy tôi phải đi Mỹ làm cho xong. Ở Vietnam ông không thể hoàn tất trách nhiệm giúp tôi, vì tôi ham chơi, kéo dài việc làm luận án. Và thế là tôi khăn gói lên đường, qua học bổng của Ford Foundation.

Trước khi đi, tôi đến chào Giáo sư Thúc, Ông có vẻ hơi giận vì tôi đã không nghe lời Ông đi Pháp mà đi Mỹ. Ông muốn tôi đi Pháp nộp luận án, rồi sẽ thu xếp giúp tôi thi aggregation (thạc sĩ)2 như Ông , vì cấp bằng này đối với Việt Nam thì danh giá hơn Ph.D của Mỹ, và quyền lợi giáo chức cũng nhiều hơn, do chế độ đẳng trật ở đại học vẫn phỏng theo quy chế của Pháp. Thực là chí tình. Trong tình sư đệ cổ truyền, Ông không những giúp tôi về mở mang kiến thức, còn lo đến cả tương lai đời sống của tôi. Băn khoan trong ý nghĩ này, trên đường qua Mỹ tôi đã ghé Paris liên lạc với Giáo Sư Gaston Leduc (là chủ trì luận án tiến sĩ cho nhiều kinh tế gia Vietnam học ở Pháp) để xin nộp luận án, và Ông đã nhận lời. Tuy nhiên sau mấy năm học xong ở Mỹ, tôi có trở lại Pháp, nhưng “trốn” không nộp these nữa, vì đã quá mệt và trong long thì rất buồn vì mẹ tôi đã mất trước khi tôi về. Mặt khác tôi muốn về ngay Việt nam khi còn đang chiến tranh để có thể tham dự một cách nào đó. Tôi đã nhập ngũ, và sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan Thủ Ðức, được trở lại Ðại Học Luật Khoa và Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng. Tôi ở trong quân đội cho đến ngày di tản 1975 với cấp bậc Trung uý trừ bị biệt phái.

Những năm học ở Pensylvania thật không uổng công: Ở đây người đi học đã tới sát biên thuỳ của kinh tế học mới. Thí dụ về Micro, sách dùng là sách Foundations của Samuelson hoặc những sách cùng trình độ. Về Econometrics, thì người dạy là Giáo Sư Lawrence Klein (Nobel 1976). Ông có hai cuốn sách giáo khoa nổi tiếng về ngành này, nhưng những bài giảng của Ông lại chỉ là những tờ nghiên cứu mới Ông đang làm vài hôm trước, và đem ra thảo luận với Sinh viên : Người học có cảm tưởng đang ở ranh giới cuối cùng của sự hiểu biết về ngành này.

Lúc trở về nước tôi đã được yêu cầu dạy môn học này lần đầu tiên ở Việtnam. (Vào năm đó 1967, ở Pháp cũng chỉ mới dạy môn này được vài năm và sách dùng gần như dịch lại sách của Klein cho Les Cours St Jacques)

Tôi vẫn thường giữ liên lạc với Giáo Sư Klein, nay tuổi đã rất lớn. Tôi cũng chịu ơn Giáo Sư Klein rất nhiều, ngoài việc là học trò: Năm 1975 khi di tản qua Mỹ, tôi đến thăm Ông, Ông nói “tôi chờ anh đã lâu, sau khi nghe Sài Gòn sụp đổ” và ngay buổi chiều, một ông Khoa Trưởng ở một Ðại Học nhỏ đến mời tôi làm giáo sư qua sự giới thiệu của Giáo sư Klein. (Tôi đã không nhận lời, vì sau đó tôi đi làm cho World Bank để có dịp đi đây đó cho khuây khoả nổi buồn xa xứ). Khi ở World Bank tôi vẫn còn nhận được lời mời của nhiều Ðại Học khác ở vùng Pensylvania, tất cả đều do Giáo sư Klein giới thiệu.

Số tôi thật may đã gặp được các ân- sư, từ Việt Nam ra đến nước ngoài. Mặt khác, nhìn lại những chặng đường đi học tôi vẫn thấy quá dài và cái “opportunity cost” có lẽ là cao.

Kinh tế học: học và hành

Tôi không rõ các đồng nghiệp khác nghĩ thế nào, những tôi vẫn nghĩ cũng như những nghề khác, đa số những việc mà một chuyên viên kinh tế phải làm để mưu sinh là những việc nhàm chán : đó là việc phân tích các dữ kiện để đưa đến một kết luận về chính sách.
Sự nhàm chán đó có thể chấp nhận và được đền bù, nếu làm việc trong nước mình, để có cảm giác công việc có ý nghĩa, ngoài việc kiếm tiền. Tôi đã may mắn có cảm giác này khi trở về Việt nam dạy học dù tiền lương ít ỏi, hay khi làm việc chung với anh em chuyên viên trước 1975 ở Tổng Nha Ngân Sách, với các Bộ Tài Chánh, Kinh Tế (cố vấn), với nhóm Kinh Tế Hậu chiến, hoặc sau đó trong hơn 20 năm làm việc cho Ngân Hàng Thế giới có hơn 10 năm đi về Vietnam nhieu lan cho chương trình công tác của WorldBank nhằm chuyển đổi kinh tế Vietnam ra khỏi hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, một hệ thống đã làm kinh tế tan nát.
Chính vì vậy tôi vẫn thường khuyến cáo các sinh viên của các nước nhỏ, trong những điều kiện bình thường, khi du học xong nên trở về nước làm việc. Ở một nước nhỏ thì sự đóng góp của một chuyên viên, dù làm việc gì, cũng có thể góp phần thay đổi trong quá trình phát triễn. Trái lại nếu làm việc ở Mỹ hay Âu Châu, thì sự đóng góp của mình không nhìn thấy kết quả hay ảnh hưởng bao nhiêu, vì ở những nước này số chuyên viên rất đông, và mình chỉ là một phần tử rất nhỏ. Tôi không bao giờ quên cảm giác ngây ngất khi dạy ở Ðại Học Cần Thơ trong một lớp học giữa cánh đồng lúa xanh bao la ở một vùng quê Hậu Giang !

Cái cảm giác đem kiến thức mới như econometrics từ nơi xa để “chuyển giao công nghệ” cho những người trẻ ham học ở miền quê thật khó có công việc nào có ý nghĩa hơn. Tôi vẫn còn nghĩ là tôi có thể sống vui và làm việc như thế cả đời cũng được.

Vậy kinh tế gia làm được gì, làm sao để trở nên chuyên gia kinh tế giỏi?

Nhiều thập kỷ đã qua khi còn trường Luật Saigon, phu nhân của một bạn đồng sự vong niên (hơn tuổi tôi) phàn nàn sao ông chồng của bà là chuyên gia kinh tế mà không giàu. Lý do là kinh tế học không dạy cách làm giàu (học MBA có lẽ gần với mục đích này hơn). Kinh tế gia chỉ là chuyên gia phân tích những hoạt động sản xuất và tiêu thụ (vi mô/microeconomics) hay những “hiện tượng” kinh tế và chính sách kinh tế của quốc gia (vĩ-mô/macroeconomics). Nếu may mắn thì chuyên gia kinh tế cũng lợi dụng được đôi chút về hiểu biết của mình để kinh doanh: Như ở Vietnam, trước và sau 1975, rất ít chuyên gia kinh tế làm được như vậy.

Việc kinh tế gia làm, tốt hơn là làm kinh doanh, chính là trả lời ba câu hỏi Samuelson đã nêu trong sách Economics và đưa ra các khuyến cáo về chính sách. Lẽ tất nhiên những việc làm này nghe thì “kinh điển” nhưng rất hệ trọng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô. Quả vậy, sự áp dụng các kiến thức kinh tế vĩ mô đã đưa Hoa Kỳ và thế giới ra khỏi cuộc đại khủng hoảng năm 1929 – 1939 và sẽ ra khỏi cuộc suy thoái toàn cầu dai dẳng hiện nay. Và cũng vì sự ích lợi của chuyên gia kinh tế là “có thật” và cần thiết, nên nhiều nơi như các cơ quan quốc tế IMF/World Bank đã có chế độ bù đắp, ưu đãi (thiệt ra là quá ưu đãi, trước những năm 1990) các chuyên gia kinh tế của họ. (Nhân nói về World Bank các bạn trẻ muốn tham gia làm việc ở đây thì nên biết họ thường tuyển dụng những người tốt nghiệp ở một trường đại học danh tiếng).

Làm sao để trở nên một chuyên viên kinh tế giỏi?

Hình như Samuelson có nói rằng khám phá trong khoa học tự nhiên hay chính xác, thường làm khi còn trẻ tuổi, nhưng Khoa học Xã hội (trong đó có kinh tế học) thì càng nhiều tuổi càng hay hơn.
Nhưng lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm cũng không đủ bảo đảm là chuyên viên kinh tế giỏi. Tôi vẫn nhớ anh HXT, một đồng nghiệp trẻ hơn tôi, một lần nói với tôi rằng Economics phải học nhiều và đọc rất nhiều mới được. Quả đúng như vậy. Vì kinh tế không phải là khoa học chính xác (học xong biết chắc liền) nên cần rèn luyện lâu năm, tức là đọc rất nhiều và quan trọng hơn nữa là trao đổi (cọ sát về tư tưởng) với đồng nghiệp luôn luôn. Một bạn đồng sự của tôi sau khi rời khỏi nơi làm việc, về quê cũ chừng một năm, nói rằng anh cảm thấy bị tụt hậu về tư tưởng. Nhất là khi làm việc về chính sách vĩ mô, một chuyên viên nếu không có nhiều năm tự rèn luyện, sẽ chỉ còn dựa vào những điều đã học trong sách khi trước và không có tự tin để có tư duy độc lập được (vì thế ta thường thấy có những chuyên viên kinh tế, do thiếu tự tin, khi viết bài thường trích dẫn ý kiến các tác giả có tiếng, một phần cũng vì cần có sự hỗ trợ cho ý kiến của mình). Ðặc điểm của một chuyên viên kinh tế “trưởng thành” chính là tư duy độc lập.

Dòng tư tưởng kinh tế chính ngày nay, trong thời đại này là Tân Cổ Ðiển (Neo Classical tên gọi khác là Kinh tế thị trường hay kinh tế tư bản). Ngoại trừ Keynes thuộc về cận đại (1930’s mà tư tưởng này đang được dùng để đưa kinh tế ra khỏi suy thoái) còn trong chính mạch (mainstream) Tân Cổ Ðiển, những ý kiến chủ đạo đã có từ một trăm năm nay. Một chuyên viên kinh tế có tư duy độc lập, thực hành và áp dụng các nguyên tắc căn bản vào thực tế sao cho linh hoạt, và không thấy bị ám ảnh bởi sách vở, và đó là điều phân biệt giữa một chuyên viên trưởng thành và một chuyên viên chưa có “tay nghề” cao.

Tay nghề cao là do sự rèn luyện, và rèn luyện bản chất là một quá trình lâu dài. Ðối với người ham học lấy sự học làm vui (học nhi thời tập chi, bat diệc lạc hồ – Khổng Tử) thì rèn luyện là việc dễ, còn không thì dễ nản, và chỉ còn tự an ủi: vẫn còn bằng cấp ta đã đạt được từ nhiều năm trước tuy nay đã cũ . Và đó thật là sự an ủi bất đắc dĩ, khác với sự rèn luyện, chịu khó của người lấy sự học làm vui.

Thay lời kết

Tôi mong câu chuyện tản mạn về đời đi học kinh tế và làm việc của tôi có ích một phần nào với bạn đọc đang học ngành này.
Năm mươi năm đã trôi qua kể từ lúc tôi học bài học kinh tế đầu tiên. Trong năm mươi năm ấy thế giới đã thay đổi nhiều, kinh tế thế giới và Việt Nam cũng thay đổi nhiều, lý thuyết kinh tế thay đổi nhiều và kiến thức kinh tế của các kinh tế gia cũng tăng lên nhiều. Tuy nhiên sự thiếu hiểu biết của giới kinh tế gia (về nguy cơ, rủi ro, tiềm ẩn trong hệ thống tài chính Mỹ do các “sản phẩm tài chính” phức tạp liên quan đến subprime mortgage) đã là lý do vì sao cuộc suy thoái hiện nay đã không được tiên liệu hay ngăn ngừa trước. Bài học này cho thấy chuyên viên kinh tế luôn phải rèn luyện và còn phải học nhiều sau khi đã có bằng cấp.

Virginia, thang gieng 2010

Phạm Văn Thuyết (pthuyet@yahoo.com)

(a) GS Thúc trước đây có viết một bài về việc Ông học và làm việc trong lãnh vực Kinh Tế
(b) Ở Vietnam ngày nay bằng Cao Học được gọi là Thạc Sĩ. Nếu có dịp tôi sẽ viết một bài về việc học và dậy kinh tế ở Viet Nam ngày nay

Advertisements

2 comments

  1. GS Pham Van Thuyet.com

    Viet Nam : Mãnh Hổ hay Mèo Rừng- Gs. Phạm Văn Thuyết

    Vĩnh biệt Giáo sư Phạm Văn Thuyết

    Ban giám hiệu Trường Đại học Hoa Sen xin thông báo tin buồn đến toàn thể giảng viên, nhân viên và sinh viên: Giáo sư Phạm Văn Thuyết, cố vấn chiến lược của trường Đại học Hoa Sen, cố vấn của Ban Tu thư Đại Học Hoa Sen, cựu Giáo sư Đại học Luật khoa Sài Gòn,cựu chuyên viên kinh tế Ngân hàng thế giới, đã từ trần vào ngày 15 tháng 1 năm 2015 tại tiểu bang Virginia, Mỹ, hưởng thọ 80 tuổi.

    GS. Phạm Văn Thuyết từng cùng Ngân hàng Thế giới tham gia vào những chương trình cải cách ở Việt Nam và các nước chuyển đổi khác, đưa ra một cái nhìn từ bên ngoài về những cản trở hiện nay, những việc cần làm, và thảo luận những hướng đi chính cho tương lai. GS. Phạm Văn Thuyết làm chuyên viên cho Ngân Hàng Thế Giới trong 20 năm (1975-1995) tại Washington D.C., sau đó làm tư vấn cho cơ quan này cho đến gần đây. Ông đã về công tác nhiều lần ở Việt Nam từ khi đổi mới từ đâu thập niên 1990 trong các lãnh vực ngân hàng, thương mại quốc tế, WTO, và khung luật pháp.
    Trước năm 1975 GS. Phạm Văn Thuyết dạy Kinh Toán Học (Econometrics) ở Đaị Học Sài Gòn. Trước khi du học ở Mỹ (MA, LLM, Ph.D), ông đã tốt nghiệp cử nhân Luật và cao học kinh tế tại Việt Nam. GS Thuyết và gia đình hiện cư ngu ở ngoại ô Washington D.C. Ông là tác giả cuốn sách mới xuất bản “Việt Nam – mãnh hổ hay mèo rừng? Phát triển kinh tế Việt Nam nhìn từ bên ngoài” (2013, NXB Trẻ).
    Là nhà kinh tế vĩ mô, sinh thời Giáo sư Phạm Văn Thuyết rất gắn bó với các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, xuất bản sách báo của Đại học Hoa Sen. Ông thường có mặt trong các hội thảo, tọa đàm do Đại học Hoa Sen tổ chức và luôn luôn đưa ra những ý kiến đóng góp tích cực, khả thi cho nhà trường. Hoạt động sau cùng của Giáo sư Thuyết tại Đại học Hoa Sen là buổi thuyết trình về đề tài: “Những vấn đề phát triển kinh tế Việt Nam nhìn từ bên ngoài” vào ngày 11 tháng 4 năm 2014. Lần đó ông đã thuyết phục hoàn toàn cử tọa bằng sự hiểu biết uyên bác và phong cách dí dỏm nhẹ nhàng để biến một đề tài khô khan thành một câu chuyện nhiều hình ảnh sinh động, hấp dẫn. Và mọi người nhìn thấy ông vui vẻ, khỏe mạnh. Trường Đại học Hoa Sen, Hiệu trưởng Bùi Trân Phượng và Ban Tu thư còn có những dự định làm việc với ông. Không ngờ ông ra đi đột ngột như vậy.
    Ông mất đi là một tổn thất cho học giới nói chung và cho Đại học Hoa Sen nói riêng. Xin gởi lời chia buồn đến gia đình Giáo sư Phạm Văn Thuyết trước tang sự này.Cầu chúc hương hồn Giáo sư Phạm Văn Thuyết, pháp danh Trí Tín, yên nghỉ chốn vĩnh hằng.

    Đại học Hoa Sen

    Like

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s