Lucien Conein và biến cố 1-11-63



Đọc WHY VIETNAM MATTERS, Rufus Phillips
(An Eyewitness Account of Lessons Not Learned (Tại sao Việt Nam Có Tầm Quan Trọng, Một Hồi Ký Nhân Chứng về Những Bài Học Chưa Thông Suốt) của Rufus Phillips, do Naval Institute Press xuất bản năm 2008 (trang 202).

Biến cố 1.11.63

Tại phiên họp ở Bạch ốc ngày 25 tháng 10, 1963, xếp lớn cùa Conein là McCone, Giám đốc CIA, tỏ vẻ lo lắng Conein quá “hiển hiện” (overt), vì ai cũng biết anh ta là CIA. Bộ trưởng Quốc phòng McNamara than phiền, “chúng ta giống như một bọn tay mơ. Chúng ta đang mưu sự với một đại sứ quá chú trọng tới báo chí và một người Pháp không bình thường”, ý nói Conein. Bộ trường Tư pháp Robert Kennedy muốn cắt đứt mọi liên lạc giữa tòa đại sứ với các tướng lãnh mưu đảo chánh, nhưng rõ ràng là điều này không thể được. Cuối cùng, Tổng thống John Kennedy kết luận là Hoa Kỳ không còn lựa chọn nào khác, Conein là đường giây liên lạc duy nhất. Một điện tín đã được gửi từ Washington tới tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, lưu ý Đại sứ Lodge theo dõi sát Conein, và đừng để đại sứ quán liên hệ quá mật thiết với cuộc đảo chánh.

Đoạn trên đây được dịch từ cuốn Why Vietnam Matters, một trong những tài liệu mới nhất về biến cố 1-11-1963 của cựu nhân viên tình báo Mỹ Rufus Phillips, xuất bản năm 2008 (1). Theo hồi ký của Phillips, Conein là người đã có vai trò quan trọng trong biến cố làm thay đổi cả cục diện lịch sử Việt Nam. Nhưng từ mấy chục năm nay, mỗi năm vào dịp kỷ niệm đầu tháng 11, Conein thường ẩn hiện trong các bài viết như ma chơi, không rõ ràng đầy đủ. Nhờ các tài liệu mới, như cuốn sách của Rufus Phillips, mà tác giả chính là người làm việc chung với Conein tại Việt Nam trong nhiều năm, cũng như dựa vào cuộc phỏng vấn Conein của hệ thống TV/Radio WGBH, người viết xin ghi lại sau đây những sự kiện mới được biết về Conein.

Cuộc đời ngang dọc

Lucien Conein là một người khá đặc biệt, đầy mâu thuẫn, và liên hệ tới nhiều chuyện thực hư khó phân biệt. Là người Pháp, từng chiến đấu cho nước Pháp, nhưng cũng phá Pháp tại Sài Gòn để bảo vệ ông Diệm. Là người từng hợp tác với Việt Minh chống Nhật, rồi lại phá Việt Minh sau Hiệp định Genève. Là người cùng với Lansdale giúp ông Diệm củng cố chế độ, rồi sau lại giúp các tướng đảo chánh lật ông Diệm. Là thành viên danh dự của “Thân hữu đảo Corse” (Corsican Brotherhood) một “xã hội đen” nổi tiếng hơn cả Mafia về những hoạt động phi pháp, nhất là buôn ma túy, nhưng được cử đứng đầu cơ quan chống ma túy của chính quyền Mỹ. Là người được thưởng nhiều huy chương cao quý, khi chết được mai táng theo đúng lễ nghi quân cách tại nghĩa trang quân đội Arlington, nhưng cũng có tin đồn đã dự phần trong mưu đồ ám sát Tổng thống Kennedy.

Chân dung Lucien Conein vào khoảng Đệ Nhị Thế Chiến

Ra đời tháng 11 năm 1919 tại Paris, lên 5 tuổi, Lucien mà về sau thường được gọi là Lou Conein, hay chỉ vắn tắt là “Lou”, được mẹ góa gửi sang Mỹ cho bà dì trông nuôi. Dì là chị em ruột của mẹ lấy một quân nhân Mỹ sang phục vụ tại Pháp hồi Đệ nhất Thế chiến. Conein vẫn giữ quốc tịch Pháp, sống với dì và lớn lên tại Kansas City, tiểu bang Missouri. Ngay từ nhỏ, Conein đã tỏ ra nghịch ngợm, phá phách. Thời trung học, Conein có người bạn thân nhất được bố cho dùng xe hơi, nhưng với điều kiện chỉ được đi 20 miles một tuần, căn cứ vào đồng hồ odometer. Conein thường phá lệ bằng cách lái xe giật lùi đi quanh thành phố.

Năm 1939, Đệ nhị Thế chiến bùng nổ, Conein xin gia nhập quân đội Pháp, trở về chiến đấu trên đất Pháp. Khi quân của Hitler xâm chiếm Pháp, Conein trở lại Mỹ, gia nhập quận đội Hoa Kỳ, và nhờ biết tiếng Pháp, được chuyển sang cơ quan tình báo chiến lược OSS (Office of Strategic Service). Năm 1944, Conein được huấn luyện nhảy dù, nhảy xuống mặt trận Phi châu, có căn cứ ở Algiers, giúp phe kháng chiến Pháp chống Đức. Tại Algiers, Conein có đứa con đầu tiên, và người vợ đầu tiên là một phụ nữ Pháp.

Trong thời gian giúp kháng chiến Pháp, Conein làm viêc chung với “xã hội đen” Corsican Brotherhood, và trở thành thân thiết với nhiều người gốc đảo Corse.

Khi Hitler tự tử và Đức đầu hàng vào mùa Hè năm 1945, Conein được gửi sang Đông Dương để tổ chức đánh Nhật. Thời gian này, Conein đã hợp tác với Việt Minh. Có nguồn tin nói rằng anh ta đã gặp cả Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp.

Theo Rufus Phillips, Conein nhận rằng mình là người Mỹ đầu tiên vào Hà Nội sau Đệ nhị Thế chiến, sau khi ông nhảy dù xuống chiếm giữ một phi trường trong tay người Nhật. Theo tướng Trần Văn Đôn, tác giả quyển Việt Nam Nhân Chứng, ông đã gặp Conein ở Hà Nội năm 1946: “Ông ấy nói với tôi rằng ông ta là người lái xe Jeep đầu tiên vô Hà Nội ngày 6-3-1946.”

Năm 1951, Conein được gửi sang Tây Đức, lập cơ sở tình báo ở Nuremberg để hoạt động tại các nước Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc. Công tác này không đem lại nhiều kết quả.

Phá Cộng tại miền Bắc

Năm 1954, Conein là người thứ nhì trong nhóm Lansdale được cử sang Sài Gòn giúp chính quyền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève. Cảm tưởng của Rufus Phillips khi gặp Conein lần đầu là ấn tượng về một người bề ngoài có vẻ nguy hiểm, lúc nào cũng như muốn nổi giận; mắt xanh, lông mày rậm, ăn nói thô lỗ, tục tằn. Bao giờ cũng mở đầu đối thoại với Lansdale bằng một câu chửi thề, tiếp theo là “Ông chẳng biết cái cứt gì đang xảy ra cả”, sau đó mới nói tới công việc.

Nhưng đôi khi, Conein cũng tỏ ra hiền lành, dễ thương. Phillips kể: Vào một buổi chiều Chủ nhật năm 1955, anh ta đã biểu lộ một khía cạnh khác, khi một nhóm người Việt được mời tới dùng bữa trưa và bơi lội tại căn nhà chúng tôi mướn có hồ bơi. Tôi ngạc nhiên thấy “Lou” dưới hồ bơi, nhấc bổng đám trẻ cho ngồi trên vai anh và ném chúng xuống nước, giữ gìn không làm chúng sợ. Anh cười đùa, nô giỡn với tụi trẻ. Tôi cảm động trước cử chỉ của anh ta đối với trẻ con và rõ ràng là anh ta vui vẻ hồn nhiên.

Trung Tá Edward Lansdale tới Sài Gòn ngày 1 tháng 6, 1954, trước khi ông Diệm được mời làm thủ tướng ngày 16, và về Sài Gòn ngày 26 tháng 6. Lansdale đứng đầu nhóm một chục người, gọi là phái bộ quân sự Mỹ tại Sài gòn (Saigon Military Mission – SMM). Lucien Conein đến Sài Gòn ngày 1 tháng 7, 1954. Trong hồi ký In the Midst of Wars, xuất bản năm 1972, Lansdale viết: “Thiếu tá bộ binh Lucien Conein đã phục vụ trong đạo quân Lê dương nước ngoài cho đến khi nước Pháp bị thất thủ năm 1940, sau đó gia nhập OSS của Mỹ để làm việc với Kháng chiến Pháp; và vào thời gần kết thúc Đệ nhị Thế chiến ông đã nhảy dù xuống Việt Nam để giúp du kích quân chống Nhật. Là một quân nhân nhảy dù ăn nói bặm trợn, ông ta đã dậy tôi nhiều điều về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1944-1945, những bài học mà tôi đã phải thận trọng rút ra từ những câu nói đầy những lời chửi thề tục tằn tôi chưa từng bao giờ được nghe phát ra với giọng điệu mạnh dạn như vậy.” (tr. 162).

Sau Hiệp định Genève chia cắt Việt Nam, Lansdale chia phái bộ SMM thành hai nhóm, một nhóm do Lansdale trực tiếp chỉ huy, hoạt động giúp chính quyền tại miền Nam đối phó với tình hình. Nhóm kia dưới quyền chỉ huy của Conein, làm những công việc về người di cư tại miền Bắc. Lansdale không nói rõ Conein làm gì, nhưng trong cuốn Edward Lansdale, The Unquiet American xuất bản năm 1988, Cecil Currey viết: Trông nom làn sóng người di cư chỉ là một phần công việc để che dấu những việc làm của Conein và những người trong nhóm của anh ta. “Công việc thực sự của họ gồm hai phần: một là thiết lập một tổ chức bán quân sự tại chỗ ở miền Bắc để sẵn sàng hành động khi Việt Minh tiếp thu từ tay Pháp, và hai là phá hoại. Conein lập căn cứ ở Hà Nội, và chi nhánh ở Hải Phòng.” (tr. 157)

Về tổ chức bán quân sự, có hai nhóm đã được thành lập, một nhóm mang tên “Binh”, gồm 13 người, phần lớn được tuyển lựa từ thành viên các đảng phái quốc gia, được đưa ra ngoài bằng cảng Hải Phòng, gửi đi huấn luyện tại căn cứ huấn luyện của CIA tại đảo Saipan. Nhóm thứ nhì gồm 21 người, mang tên “Hao”, được tuyển lựa tại Sài Gòn, lên tầu ngày 23 tháng 11, 1954, cũng tới Saipan để được huấn luyện. Sau đó, cả hai nhóm được mang vào bố trí tại miền Bắc, trước thời hạn Việt Minh kiểm soát toàn thể phía Bác vĩ tuyến 17. Trong khi đó, nhóm của Conein cũng phụ trách việc chuyển tám tấn rưỡi đồ tiếp liệu và vũ khí vào chôn dấu cho các nhóm bán quân sự sẽ sử dụng sau này. Trong số này có 14 radios, 300 súng carbines, 90 ngàn đạn súng trường, 50 súng ngắn với 10 ngàn viên đạn, và 300 cân (pounds) chất nổ.

Cho đến khi Việt Minh tiếp thu Hải Phòng vào ngày 16 tháng 5, 1955, cả hai toán Binh và Hao đã được bố trí xong. Conein nói trong cuộc phỏng vấn dành cho Cecil Currey ngày 24 tháng 6, 1985 rằng “Tôi có trách nhiệm lo cho những cơ sở này sinh tồn. Điều này khiến tôi rất bận rộn. Họ đã được bố trí khi chúng tôi ra đi…. Nhưng họ đã không tồn tại quá hai năm trước khi bị tiêu tùng”. Sau này, theo Lansdale, vì ông ta rời VN vào năm 1956, số phận của hai nhóm bán quân sự tại miền Bắc trong tay CIA, và họ đã làm hỏng.

Về công tác phá hoại, cũng trong cuộc phỏng vấn nêu trên dành cho Currey, Conein nói rằng ông ta đã chuẩn bị nhiều mục tiêu định phá ngay trước khi quân Pháp ra đi, nhưng vì vẫn còn một phái bộ nhỏ của MAAG và lãnh sự quán Hoa Kỳ không ra đi cùng ngày với Pháp, nên kế hoạch phải hủy, để không liên lụy tới Mỹ. Vẫn theo Conein, chỉ có hai vụ “chơi bẩn” đã được thi hành, một là pha một loại acid vào dầu máy xe bus chạy trong thành phố, khiến xe không hỏng ngay, nhưng bị hư hại dần dần. Vụ thứ nhì là trộn “than nổ” với than chạy máy xe lửa, khiến đầu máy bị nổ. Conein nói vậy thì biết vậy, nhưng sự thật chưa chắc đã như vậy. Ví dụ, nếu người viết không nhớ lầm, phương tiện giao thông công cộng tại Hà Nội vào năm 1954, ngoài xích lô đạp, chỉ có tầu điện, không có xe bus, cũng không có taxi.

Phá Pháp phò Diệm

Sau công tác miền Bắc, Conein trở lại Sài Gòn, làm việc với Lansdale. Theo Rufus Phillips, có lần tin tức của Conein đã giúp ông Diệm thoát chết. Tác giả Why Vietnam Matters kể rằng, vào thời gian hưu chiến trong trận đánh giữa Bình Xuyên và quân chính phủ của Thủ tướng Diệm cuối tháng Ba 1955, “Lansdale có một cuộc họp khẩn với các viên chức làm việc trực tiếp với ông. Conein tới trễ và phát biểu sau cùng. Với thái độ bình thường mọi ngày, nói rằng qua tin tức từ những người bạn gốc Corse, ông biết có một âm mưu ám sát ông Diệm bằng chất nổ, trái bom đã được đặt trên con đường ông Diệm sẽ đi qua trong vài giờ nữa. Lansdale tái mặt. ‘Tại sao anh không cho tôi biết sớm hơn?’ Conein vẫn trả lời như thường lệ: ‘Tại vì ông có hỏi tôi đâu?’ Lansdale vội vàng chạy vào dinh báo cho ông Diệm biết.”

Vào thời gian “hỗn quân hỗn quan” của Sài Gòn đầu năm 1955, trước khi vĩnh viễn từ biệt thuộc địa, quân Pháp còn quậy khá ồn ào, kể cả đàn áp tinh thần đám người Mỹ bắt đầu bước vào. Nhiều trái bom đã nổ, từ chuyện phá thư viện Mỹ đến xe người Mỹ sử dụng. Qua những nguồn tin của Conein, nhóm Lansdale biết rằng người của Đại tá Carbonel, Trưởng nhóm TRIM (Training Relations Instruction Mission – Phái bộ huấn luyện hỗn hợp Pháp Mỹ) đã liên hệ tới các vụ nổ bom chống Mỹ này. Lansdale họp nhóm, tuyên bố tình hình đã đến lúc phải chấm dứt. Phillips kể:

Chiều hôm ấy, khi ghé qua trụ sở, như tôi vẫn thường làm để liên lạc với anh em trong nhóm, thấy chẳng có ai ngoại trừ Conein đang một mình trong bếp. Trước mặt anh trên bàn bếp là những thỏi chất nổ plastic C-3, ngòi nổ mầu cam, kíp nổ, một hộp nắp đậy, và những cuốn băng ma sát. Conein lẩm bẩm chửi thề, vừa tiếng Pháp, vừa tiếng Anh – “salauds, espèces de con, bastards, goddamn son of bitches, assholes” – trong khi cắt những thỏi C-3, bọc chúng bằng ngòi nổ và băng ma sát, ấn nắp đậy vào những chỗ cắt để kíp nổ rồi gắn kíp nổ với nắp đậy vào ngòi nổ bọc chung quanh C-3. Ngạc nhiên, tôi hỏi anh ta đang làm gì vậy. “Việc đéo gì đến anh; không thấy những của quỷ này giống cái gì à?’ là câu trả lời của anh. Tôi hỏi liệu tôi có giúp gì được không. Anh đưa cho tôi con dao và bảo tôi cắt những thỏi C-3 còn lại thành những miếng dài khoảng 12 phân rồi dán những ngòi nổ vào, giống như những miếng khác. Không ai trao đổi thêm một lời. Chúng tôi làm việc trong im lặng, trừ những loạt chửi thề, cho đến khi tôi làm xong. Tôi hỏi anh có chắc là không cần tôi nữa, Conein lại xổ nho “không, đồ khốn kiếp, cút mẹ nó đi cho được việc. Coi như không hề nhìn thấy những thứ này, nghe không!” Tôi đi.

Sau nửa đêm, Conein chở vị hôn thê Elyette Brochot, không nói rõ mục đích, lái xe qua các đường phố Sài Gòn. Anh đưa cho nàng những thỏi chất nổ để trên đùi. Trước tiên, Conein đến nhà Đại tá Carbonel, rồi nhà của những đầu xỏ khác. Elyette (sau thành vợ thứ ba của Conein) đưa anh trái bom do chính anh đã làm. Anh đốt bằng đồ châm thuốc lá, rồi tung qua tường vào vườn mỗi nhà. Trái nổ cuối cùng ném vào vườn nhà đại sứ Pháp. Hôm sau, có than phiền gửi tới tòa đại sứ Mỹ, nhưng rồi phía Pháp ngậm tăm, vì cùng ngày cảnh sát VN đã bắt được một số sĩ quan cấp dưới của Pháp, trên một xe Jeep có chở chất nổ và một danh sách các mục tiêu Hoa Kỳ. Vụ nổ bom chấm dứt.

Sau khi Lansdale về Mỹ vào cuối năm 1956 do bất đồng ý kiến về vai trò của Đảng Cần Lao, có tài liệu cho biết Conein trước khi về Mỹ đã làm việc với William Colby vào cuối thập niên 50, lo huấn luyện các biệt kích người Thượng ở cao nguyên. Khoảng 1962, Lucien Conein trở lại Việt Nam, đóng vai cố vấn cho Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương, là Tổng ủy Di cư thời 54-55 mà Conein đã quen biết. Conein và ông Lương là hai con người với hai nếp sống hoàn toàn khác nhau. Tuy không đến nỗi xung khắc, nhưng phải đi theo Bộ trưởng Lương trong những cuộc kinh lý, nghe những buổi nói chuyện dài buồn tẻ, Conein phát chán. Có lần anh đã phải viết trên một mẩu giấy nhỏ, lén đưa cho ông Lương, nhắc nhở: “Tuyên ngôn Độc lập – 500 chữ, Diễn văn tại Gettysburg – 200 chữ, nói ngắn thôi.” Nhưng Lou than với Phillips “Chẳng ăn thua mẹ gì cả.”

Liên hệ đảo chánh

Theo tác giả Việt Nam Nhân Chứng là Tướng Trần Văn Đôn: “Sau lệnh thiết quân luật 20-8-1963, ông ấy (Conein) thường đến gặp tôi nhưng tôi dè dặt không tiết lộ điều gì, chỉ cho biết quân đội không tham gia việc tấn công chùa.”

Theo cuộc phỏng vấn của WGBH (Đài TV và Radio ở Boston, thành viên của hệ thống PBS – Public Broadcasting Service) ngày 7 tháng 5, 1981, Conein đã chú ý tới ý hướng phản kháng trong giới tướng tá từ đầu tháng Bảy. Trong cuộc tiếp tân nhân dịp Quốc Khánh Mỹ 4 tháng 7 tại nhà Đại sứ Hoa Kỳ, có đông đủ tướng lãnh VN tham dự, Conein nghe nói và được mời đi với họ tới một hộp đêm ở dưới hầm khách sạn Caravelle. Qua câu truyện trong cuộc gặp gỡ này, Conein “đánh hơi” thấy khuynh hướng chống đối chế độ của các tướng.

Vụ tấn công chùa đêm 20 tháng Tám nhằm mục đích củng cố chế độ đã gây hậu quả trái ngược. Có thể nói chính kế hoạch tai hại này đã làm nảy sinh kế hoạch đảo chánh. Trên đường đến Việt Nam nhậm chức, Đại sứ Cabot Lodge định ghé thăm Tokyo, Manila, Singapore rồi mới tới Sài Gòn. Nhưng vừa tới Nhật, đang đêm ông Lodge nhận được điện tín khẩn từ Washington, yêu cầu phải tới ngay Sài Gòn để đối phó với tình hình khẩn trương vì vụ tấn công chùa.

Ông tới Sài Gòn chiều 22 tháng 8. Ngay hôm sau, hai phụ tá thân tín nhất của ông là Freddy Flott và Mike Dunn yêu cầu gặp khẩn cấp Rufus Phillips, hiện đang hoạt động trong lãnh vực bình định nông thôn. Lý do gặp gỡ là trước khi đi Việt Nam, ông Lodge được Lansdale cho biết Rufus Phillips quen nhiều người Việt, nên muốn Phillips cho biết một cách trung thực thái độ của người Việt như thế nào đối với tình hình sôi động lúc bấy giờ. Phillips hỏi đã tham khảo ý kiến CIA chưa. Rồi, nhưng CIA không phải là người Việt, ông Lodge muốn biết rõ quan điểm từ phía người Việt. Phillips hứa làm điều này, cam đoan không thêm bớt hay thiên vị.

Ngay chiều hôm ấy, Phillips gọi đến nhà ông Lê Văn Kim, nói truyện với bà Kim, hẹn gặp ông vào buổi tối.

Những “người Việt” của Phillips chỉ có ba người là các ông Nguyễn Đình Thuần, Lê Văn Kim, và Bùi Diễm. Tuy bề mặt, ba người này có thể coi như đại diện cho ba khuynh hướng khác nhau: Ông Thuần, Bộ trưởng Phủ Tổng thống kiêm Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng, tiếng nói của những người thân tín ông Diệm, phe cầm quyền. Ông Bùi Diễm, một chính khách đối lập, đảng Đại Việt. Tướng Kim là tiếng nói quân đội. Nhưng trên thực tế, tiếng nói của ba người này là một.

Ông Kim là người thân của Tướng Minh và Tướng Đôn. Theo Tướng Đôn viết trong Việt Nam Nhân Chứng: “Lê Văn Kim trước kia là bạn, về sau trở thành em rể của tôi. Ông Kim là đầu não tổ chức đảo chánh. Tôi gặp Thiếu Tướng Kim ít nhất mỗi tuần một lần. Chúng tôi là anh em nên gặp nhau ít bị nghi ngờ. Sau ngày thiết quân luật, Thiếu Tướng Kim là liên lạc giữa tôi và Trung tướng Dương Văn Minh.”

“Năm 1955, ông Kim tiếp thu Bình Định mà không phải nổ một tiếng súng. Người Mỹ sát cánh với ông Kim lúc đó là Ruph Philip (sic) (đúng ra là Rufus Phillips), phụ tá của Đại Tá CIA Lansdale. Ông Kim cũng là người thân với Bùi Diễm. Ba người này tiếp xúc với nhau lo về mặt chính trị.”

Với quan điểm của những người Việt trên đây, chẳng cần ai xuyên tạc hay thêm bớt, cũng đủ đưa anh em ông Diệm tới chỗ chết.

Best but not brightest

Trong tác phẩm Ký nổi tiếng The Best and the Brightest, nhà báo lớn David Halbertstam từng được giải Pulitzer viết:

Tướng Dương Văn Minh, khuôn mặt nhà binh được kính trọng nhất tại Nam Việt Nam, người thân cận với nhóm Lansdale từ những ngày đầu khi ông giúp đánh dẹp đám Bình Xuyên, đã tiếp xúc với người bạn cũ của ông là Lou Conein, và hỏi xem có nói chuyện được không. Conein đã ở Việt Nam 18 năm, hầu hết với CIA; ông ta đã là một trong những người Mỹ đầu tiên nhảy dù xuống vào hồi cuối Thế Chiến II. Ông ta biết giới quân sự không cộng sản rất rõ, vì theo như lời kể của ông, họ là những người chính ông đã tuyển mộ. Sắc sảo, thô lỗ, hay thêu dệt, ông ta giống một phiên bản Mỹ của lính nhẩy dù Pháp, một người mọc lên từ mầm mống mạo hiểm gay cấn. Ông ta biết đất nước và con người, và ông ta đùa giỡn với hiểm nguy, chính hiểm nguy làm cho cuộc đời hứng thú hơn. Một bàn tay thiếu hai ngón tay, và truyện bàn tán khắp Sài Gòn về tại sao những ngón tay bị mất đó, chẳng hiểu do nguyên nhân cao cả hay không; những nhà báo biết rõ Conein thích ông ta và trong sổ điện thoại luôn ghi ông ta với biệt danh “Brown Ba-ngón”, theo tên nhà thể thao bóng chầy Mordecai Brown. Vị Tư lệnh Hoa Kỳ ở Sài Gòn khinh thường ông; ông bị nghi ngại rằng đã ở đây quá lâu, quá gần gũi với địa phương; ông ta bốc đồng, không đáng tin, chơi trò nguy hiểm – thứ nguy hiểm nhất. Ông ta cũng là một trong số rất ít người Mỹ có được sự tin cậy của giới quân sự Việt Nam, người coi thường Harkins và coi Harkins như Nhu nối dài (sau này, khi việc mưu sự với các tướng Việt Nam sâu đậm hơn, Bạch ốc đánh điện cho Lodge gợi ý nếu kiếm được người nào đáng kính hơn Conein thì tốt hơn, và Lodge trả lời đồng ý, nhưng không thể tìm được ai thay thế, và Tướng Trần Văn Đôn đã “tỏ ra cực kỳ ngần ngại trong việc mưu tính với bất cứ ai khác’) (tr. 286-287).

Lời tường thuật của nhà báo hàng đầu nước Mỹ đối chọi với những dữ kiện trong quyển Why Vietnam Matters. Theo Rufus Phillips, không phải Tướng Minh kiếm Conein, mà ông Lodge nhờ Phillips giới thiệu Conein với Tướng Kim, để ông Kim giới thiệu với Tướng Minh.

Căng thẳng như dây đàn

Như đã trình bầy trong cuối phần 1, không giống với điều nhà báo Halberstam nói Tướng Minh là người quen Conein từ lâu và chính ông đi kiếm Conein,

Phillips viết:

Mike Dunn gọi tôi lên Tòa đại sứ vào ngày 26 tháng 8, thấy Lou Conein đang đợi tôi ở đấy. Dunn cho chúng tôi biết Washington – ý nói Tổng thống – đã ra lệnh cho Lodge khuyến khích các tướng làm một cuộc đảo chánh chớp nhoáng. Khi tôi hỏi về ông Diệm thì thế nào, ông ta nói sẽ cho các tướng biết để tùy họ quyết định có giữ Diệm không. Tôi ngạc nhiên về sự thiếu rõ ràng trong việc giữ Diệm. Ông Thuần không muốn như vậy, cũng không phải là điều ông Đôn muốn, theo Conein. Dunn nói chỉ thị không thiếu rõ ràng. Người đưa tin chính thức cho các tướng là Conein; Tôi giúp anh ta bằng mọi cách có thể.

Lou hỏi liệu tôi có sẵn sàng tự mình bảo lãnh cho anh ta với Tướng Kim như là một người Kim có thể tin cậy. Kim có lẽ là người tốt nhất để dàn xếp cho anh ta nói chuyện với tướng Minh. Đứng trước việc làm theo những gì có vẻ rõ ràng là lệnh từ Tổng thống Kennedy, dù tôi thấy không thoải mái, hay tự đứng ngoài mọi cơ may có ảnh hưởng tới tình thế, tôi đồng ý giúp Conein. Dunn đưa tôi vào gặp Lodge (Conein đã gặp rồi). Lodge rất ân cần. Ông đứng lên từ sau bàn giấy, bắt tay tôi, miệng nói kín đáo “Tôi tin tưởng vào anh”.

Sau cuộc gặp gỡ, tôi gọi cho bà Kim ở nhà, hẹn tới nhà ông vào buổi tối. Tôi nói sẽ mang theo người bạn để gặp Kim…. Trên đưởng về, Lou ngỏ ý cảm ơn sự giúp đỡ của tôi, và rằng Kim có vẻ tin tưởng vào những lời nói của anh ta và sẽ bảo lãnh cho anh ta với tướng Minh.

Vì thiếu tin tưởng vào các tướng đảo chánh, và sợ trách nhiệm nếu việc không thành, ngày 29 tháng 8, Kennedy đánh điện cho Lodge nói rằng “Cho đến giờ phút các tướng khởi sự chiến dịch, tôi vẫn dành quyền thay đổi và đảo ngược các chỉ thị trước”.

Ngày 31 tháng 8, Tướng Khiêm cho Tướng Harkins biết Tướng Minh đã hoãn kế hoạch đảo chánh, một phần chưa đủ lực lượng, một phần thiếu tin tưởng vào vai trò đại diện phía Hoa Kỳ của Conein, vì địa vị của anh ta tương đối thấp. Conein rất giận dữ về chuyện này, cho rằng Harkins đặt điều để tự đề cao. Lodge cũng không tin Harkins, lại nhờ Phillips kiểm chứng với Tướng Kim. Kim xác nhận quả thật đảo chánh bị hoãn. Lodge thất vọng. Minh trình bầy rằng không phải các tướng thiếu ý chí, mà thiếu phương tiện. Lodge vẫn nghĩ rằng vận động các tướng giống như đẩy sợi bún trên mặt đĩa.

Cùng vào ngày 31 tháng 8, có một chuyện khác cũng liên hệ tới Conein. Nhà báo Úc Denis Warner cho Phillips biết, mới nói chuyện với Trần Văn Khiêm–em bà Nhu– trong bốn tiếng. Qua đó, Khiêm cho biết cần phải loại ông Nhu, để chị em ông cầm quyền. Khiêm cho biết đã tổ chức mật vụ riêng, và có sẵn một danh sách liệt kê các viên chức Hoa Kỳ sẽ bị ám sát. Trong danh sách này, John Richardson đứng đầu, Lou Conein hàng thứ tư.

Âm mưu đảo chánh chớp nhoáng vào tháng 8 không thành, nhưng tình hình căng thẳng tiếp tục sang tháng 9, với cột trụ bảo vệ chế độ là Tổng trấn Tôn Thất Đính, và thỉnh thoảng lời phát ngôn thêm dầu vào lửa của bà Nhu. Nhưng Conein vẫn được trong dụng. Theo Phillips:

Không khí bất ổn tăng lên không phải chỉ do những chuyện điên khùng như em bà Nhu nhưng còn do những lời tuyên bố và tác phong của Tướng Tôn Thất Đính, người được Nhu ủy thác cho chức vụ Tổng Trấn Sài Gòn. Đính bốc đồng và bất ổn, từng gay gắt tuyên bố ý định làm thế nào đối phó với “kẻ thù” của chính quyền. Ông chọn Conein là người liên lạc riêng giữa ông và Đại sứ quán Mỹ, cho lắp tại nhà riêng Conein một điện thoại đỏ đặc biệt, một đường giây trực tiếp để gọi đến văn phòng ông. Thỉnh thoảng ông gọi cho Conein bằng đường giây đỏ, báo tin ông sắp ghé, rồi đi xe có mô tô hộ tống, ồn ào phóng tới nhà Conein tại con đường nhỏ, tạt vào, ngồi tại quầy rượu giữa đám hộ tống, gọi rượu Scotch. Ông ta và Conein đấu qua đấu lại một hồi, rồi lại rống lên ra đi. Vào thời điểm này, Đính chưa can dự vào âm mưu đảo chánh, và không biết Conein là người trong đám.(tr.180)

Tháng 10, theo nhận định của Phillips, tình hình Sài Gòn căng thẳng như giây đàn piano. Lodge bực tức trước tin đồn mình sẽ bị ám sát. Theo Conein, tin đồn đó do phía Nhu tung ra như một đòn cân não. Harkins nói với Tướng Đôn tại một cuộc tiếp tân ở sứ quán Anh ngày 22 tháng 10 là Mỹ không ủng hộ đảo chánh, vì tình hình không phải lúc để làm điều đó, khiến ông Đôn chột dạ. Conein bực mình “Thằng cha Harkins ngu đần đó suýt nữa làm hư việc.” Lodge chỉ thị cho Conein bảo đảm với Đôn rằng Harkins không phát biểu thay cho Lodge hay chính sách Mỹ.

Sáng 28 tháng 10, Lodge được mời đi Đà Lạt với ông Diệm, nhân dịp khai mạc Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc tại đây. Ở phi trường Tân Sơn Nhất, theo Phillips, Conein xếp đặt để Đôn có dịp hỏi Lodge: Có phải Conein được phép nói thay cho ông? “Yes, he was”, Lodge trả lời. Nhưng Tướng Đôn là người trong cuộc, kể hơi khác:

“…bổn phận quyền Tổng Tham Mưu Trưởng phải đưa đón Tổng Thống. Vì vậy lúc 7 giờ 30 sáng tôi đã có mặt ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Tại đây tôi gặp Đại sứ Cabot Lodge và phu nhân. Đại sứ Lodge giới thiệu vợ với tôi, ông Lodge hỏi tôi bằng tiếng Pháp:

  • Có phải Trung Tướng xưa kia phục vụ trong quân đội Pháp?
  • Đúng vậy.

Tôi hỏi riêng ông:

  • Que pensez vous de Monsieur Conein? (Ông nghĩ gì về ông Conein?)

Ông Lodge trả lời:

  • Il parle pour moi. Il me représente. Vous pouvez avoir confiance en lui. (Ông ta phát ngôn cho tôi, ông ta đại diện cho tôi. Ông có thể tin cậy ông ta).

Sáng 30 tháng 10, Phillips được ông Diệm tiếp tại dinh Gia Long. Khi câu truyện gần tàn, ông Diệm nhìn thẳng vào Phillips, hỏi: “Ông có nghĩ rằng sẽ có đảo chánh?” — “Tôi sợ rằng có, thưa Tổng thống”, là trả lời của Phillips.

Tiền và máu

Sáng 1 tháng 11, Phillips ăn sáng với Nguyễn Đình Thuần. Xong, ghé qua Sứ quán, viết báo cáo cho Lodge những gì đã nghe được từ Thuần, rồi về nhà Tướng Stilwell ăn trưa, cùng với phó Đại sứ Trueheart, và Dunn, phụ tá của Lodge.

Khoảng 1 giờ 45, Tướng Đôn gọi điện thoại báo cho Stilwell đảo chánh bắt đầu. Hồi đầu tháng 10, Conein mời Phillips đến ăn cơm tại nhà mình, cho biết đảo chánh sẽ xảy ra trong vòng mấy tuần. Anh ta đã nhờ “A-team” của Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ canh nhà, và nếu có chuyện không hay xảy ra, sẽ di tản vợ con anh. Conein sẽ ở cạnh các tướng đảo chánh, nên nhờ Phillips ở tại nhà mình trông chừng vợ con anh, khi đảo chánh xảy ra. Vì thế, từ nhà Stilwell, Phillips đến thẳng nhà Conein.

Trong khi ấy, theo Tướng Đôn:

Đến ngày 1 tháng 11, như đã hứa, tôi điện thoại tìm ông ấy (Conein) tại nhà lúc 1 giờ trưa nhưng ông đi vắng. Tôi nhờ nha sĩ Long đi tìm và mời vào bộ Tổng Tham Mưu.

Đúng 1 giờ 30 trưa, ông Conein vào có mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với tòa Đại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc Việt Nam….

…ông Conein đại diện cho Đại sứ Cabot Lodge luôn luôn ở cạnh chúng tôi, theo dõi tình hình… ông Conein theo dõi tôi, cứ hỏi:

  • Hai ông ấy đâu? Phải bắt lại cho kỳ được vì rất quan trọng. (On ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs.)

Phillips kể:

Từ nhà Conein có thể nghe tiếng súng không liên tục từ chiều đến tối. Vào khoảng bốn giờ sáng (2-11), tiếng súng nổ liên hồi, có cả võ khí hạng nặng, giống tiếng cannon từ xe tăng, bắn từ mọi phía quanh dinh Tổng thống, kéo dài khoảng trên một giờ. Rồi lại im lặng. Trong khi lực lượng đặc biệt vẫn thức canh gác, tôi ngủ vài giờ trước bình minh, hy vọng vào lúc đó sẽ biết tin. Vào khoảng 7:30 sáng, Lou về nhà tắm rửa, thay quần áo và ăn. Anh ta đã có mặt tại Tổng Tham Mưu Quân đội Việt Nam, nơi chỉ huy cuộc đảo chánh, từ chiều hôm trước. Anh ta mới ghé qua Sứ quán để báo cáo, rồi về thẳng nhà.

Cuộc đảo chánh đã thành công. Diệm và Nhu đã đầu hàng tại một nhà thờ ở Chợ Lớn, và sắp được mang về Bộ Tổng Tham Mưu, giữ ở đó cho đến khi có máy bay Mỹ chở đi lưu vong. Đó là tất cả những gì anh ta có thể cho tôi biết. Rồi anh ta trở lại Bộ Tổng Tham Mưu để biết chắc mọi xếp đặt cho việc giữ các ông Diệm và Nhu cho đến khi máy bay tới, phải mất một thời gian. Tôi vừa cảm thấy buồn, vừa thấy nhẹ nhàng vì đảo chánh đã xong. Tôi vui mừng vì Diệm không bị hại. Tôi đợi Lou trở về cho biết mọi sự đều tốt đẹp.
Lou về lại nhà vào khoảng 11 giờ sáng (2-11), nhưng với vẻ mặt tái xạm. Trông như người ốm. Anh nói: “Bọn chó đẻ khốn nạn, chúng giết Diệm rồi; chúng hạ sát Diệm và Nhu.” Anh ta nộ khí xung thiên…. Họ đã ôn hòa đầu hàng, rồi bị giết trong chiếc xe bọc sắt được phái đến chở họ…. Conein đã từ chối nhìn các xác chết, anh không muốn làm nhân chứng. Conein đã thất thần, và cả tôi nữa…. [Diệm] đúng là một người cha của Nam Việt Nam – không phải người cha tốt nhất, nhưng là người nếu không có ông, thì đã không có một Nam Việt Nam độc lập.

Đâu là sự thật?

Conein đã giữ kín miệng về vai trò của mình trong cuộc đảo chánh một thời gian khá lâu. Mãi đến khi trả lời với tư cách nhân chứng vào tháng 6, 1975, trước Ủy ban Thượng viện điều tra về vai trò của Hoa Kỳ trong việc ám sát các nhà lãnh đạo nước ngoài, do Nghị sĩ Frank Church đứng đầu, thường được gọi là “Church committee”, Conein mới nói về vai trò của mình, đó là: “chuyển lệnh từ Đại sứ của tôi đến những người làm kế hoạch đảo chánh, theo dõi những người làm kế hoạch đảo chánh, thu hoạch càng nhiều thông tin càng tốt, để Chính quyền chúng ta không bị đặt trước sự bất ngờ”.

Trong cuộc phỏng vấn thu thanh và thu hình của WGBH lâu 42 phút 31 giây vào ngày 7 tháng 5, 1981 (2), Conein cho biết những điều đáng chú ý sau:The 1963 plot to overthrow -Interview with Lucien Conein

  • Đường lối của Hoa Kỳ đối với chính quyền Ngô Đình Diệm rõ ràng đã thay đổi từ sau khi Đại sứ Lodge đến Việt Nam.
  • Hoa Kỳ có bật đèn xanh cho các tướng về đảo chánh, nhưng không có bằng chứng rõ ràng, mà chỉ qua lời nói việc làm để các tướng hiểu được như vậy.

  • Conein có gặp riêng ông Nhu tại Phủ Tổng thống, nghe ông độc thoại khoảng ba bốn tiếng. Conein có cảm tưởng ông Nhu muốn thuyết phục anh ta là mọi sự đều trong vòng kiểm soát. Tại sao ông Nhu làm như vậy? Anh không biết. Có lẽ tại ông Nhu biết anh có liên lạc với các tướng. Qua thái độ của ông Nhu, Conein có cảm tưởng chính quyền đã tự cô lập mình.

  • Conein thường chỉ liên lạc với Tướng Đôn, phần lớn gặp nhau tại văn phòng nha sĩ (Tướng Đôn nói rõ là Nha sĩ Long), đóng kịch như người đi chữa răng.

  • Conein gặp Tướng Minh vào đầu tháng Mười để trao đổi quan điểm. Minh không muốn Hoa Kỳ tham dự vào cuộc đảo chánh, mà chỉ muốn chính quyền mới được Mỹ sớm thừa nhận. Conein nói:

  • Ông ấy cũng thảo luận về việc để ngỏ cho ông ấy lựa chọn liên hệ tới Diệm. Một lựa chọn là họ cho ông Diệm đi lưu vong. Lựa chọn khác là họ có thể giết Diệm và Nhu. Tôi báo cáo chuyện này ngay, đó là lần chót, và cũng chỉ có lần ấy đề cập tới cái chết của Diệm cho đến ngày nó xảy ra.

    Được hỏi có thông tin nào cho Minh biết là Mỹ phản đối kế hoạch giết Diệm không. Conein trả lời có phản đối ngay, từ Washington.

    Vấn đề chót trong cuộc phỏng vấn là: Anh cảm thấy thế nào khi biết Diệm Nhu bị giết, và làm thế nào anh biết họ bị giết? Conein trả lời:

    Khi đảo chánh sắp kết thúc vào khoảng 5 hay 6 giờ sáng 2-11, Tổng thống Diệm gọi và nói chuyện với Big Minh. Tất cả các cú điện thoại nói với các tướng đều qua Đôn. Diệm từ chối nói chuyện với Minh, trừ một lần. Khi xong, Big Minh nói đại khái ông ta không chấp nhận cho các ông Diệm và Nhu đầu hàng khi người Việt còn bắn lẫn nhau, do đó, Diệm nói rằng sẽ có ngừng bắn vào lúc 7 giờ sáng. Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy các tướng đã thắng …Sàigòn.

    Lúc đó, các tướng và mọi người bỗng nhiên kéo ra đầy hành lang rộng lớn của Tổng Tham Mưu, và Big Minh tiếp nhận chúc mừng. Đúng ra, tôi nghĩ họ đã vinh thăng một số người ngay tại chỗ, từ đại tá lên thiếu tướng. Tôi không biết, sao bay khắp nơi, và thiếu tá lên trung tá, đại tá lên tướng và tướng thêm một sao nữa, và…. Tôi có cảm tưởng vào lúc đó, Diệm vẫn còn ở trong dinh…

    Big Minh hỏi tôi cần bao lâu để tôi có thể kiếm được một máy bay đến Sàigòn. Trước hết, ông muốn một máy bay Mỹ, không phải máy bay Việt Nam…. Điều này chứng tỏ sự ủng hộ trực tiếp nên tôi gọi, tôi hỏi tòa đại sứ, nói với họ Diệm sắp đầu hàng…. Tôi được tòa đại sứ cho biết Hoa Kỳ muốn ông Diệm chấp nhận lưu vong tại quốc gia đầu tiên nhận ông, hoặc Philippines, Nhật, hay Pháp. Do đó, cần 24 giờ cho một máy bay đàng hoàng từ Okinawa tới Sàigòn để có thể bay thẳng tới nước khác…

    Vào lúc này, Big Minh đòi mang chiếc xe du lịch (sedan) của ông tới, hộ tống bởi hai xe Jeep của Quân Cảnh Việt Nam, và ông đi đường trong để tới dinh và bốn hoặc sáu xe bọc sắt được gửi thẳng tới dinh. Sau khi ông đi rồi, mọi người dọn dẹp…

    Sau khi Big Minh ra đi, tôi đi đường trong về phía dinh, tôi để ý chúng tôi phải dọn dẹp đủ thứ để họ sửa soạn cho ông Diệm tới. Họ có cái bàn phủ khăn xanh, họ có Phó Tổng thống ở đó để nhận sự giải nhiệm và họ chuẩn bị để mang máy quay phim tới. Lúc này, tôi biết họ sắp mang máy quay phim tới, tốt hơn là tôi nên về nhà. Trong khi ở nhà, tôi nhận được điện thoại từ sứ quán, họ nói cần tôi, và đây là điện thoại từ thẩm quyền cao nhất, muốn biết ông Diệm và ông Nhu đang ở đâu. Tắm xong, tôi trở lại Tổng Tham Mưu, tới câu lạc bộ sĩ quan, thấy họ đang lấy lời khai các bộ trưởng trong chính quyền cũ.

    Lúc này, tôi hỏi về Diệm và Nhu. Tôi nói chuyện thẳng với Big Minh và ông ta cho tôi biết họ đã tự tử, và xác họ đang ở phía sau Tổng Tham Mưu – Tôi có muốn nhìn họ không? Tôi nói Không, tôi không muốn nhìn và tôi rất thất vọng họ đã làm sai dự định trước, vì kế hoạch nguyên thủy là Diệm Nhu ra khỏi nước.

    Có một khác biệt giữa thông tin của Phillips và trả lời của Conein: Theo Phillips, khi về nhà lần thứ nhất vào sáng 2-11, Conein cho biết anh em ông Diệm đã đầu hàng từ một nhà thờ ở Chợ Lớn, và sắp được mang về Bộ Tổng Tham Mưu, đợi lên máy bay đi lưu vong. Trong trả lời phỏng vấn, Conein cho biết khi đang ở nhà, được “thẩm quyền cao nhất” có nghĩa là ông đại sứ muốn biết các ông Diệm Nhu đang ở đâu. Đâu là sự thật?

    Từ Sàigòn đến Arlington

    Trong cuốn A Bright Shining Lie (1988) nhà báo Neil Sheehan viết: “Ít điệp viên được trao cho cơ hội đạt tới đỉnh cao của nghề nghiệp bằng cách xếp đặt để lật đổ một chính quyền. Conein đã chuyển quyền lực của Hoa Kỳ hầu tạo ảnh hưởng nơi các tướng để sai khiến”.

    Theo lời Tướng Đôn, vào trưa ngày 2-11, ông chấp thuận lời yêu cầu cùa Conein, cho phép một máy bay chở Bác sĩ Phan Huy Quát, đang bị giam tại lao xá Cần Thơ từ sau cuộc đảo chánh bất thành tháng 11 năm 1960, về Sài Gòn. Ba giờ chiều, Conein cho biết ông Lodge muốn gặp các tướng đảo chánh. Tướng Minh không chịu đi, cử hai ông Kim và Đôn tới gặp Lodge lúc 4 giờ. Tối ngày 4 tháng 11, Lodge cho Conein đến nhà Tướng Khánh đón ba con ông bà Nhu, chở ra phi trường, cho đi Roma trên một chuyến bay đặc biệt.

    Tháng 1-1964, Conein về Mỹ nhận huy chương CIA thưởng cho những công trạng trong cuộc đảo chánh. Sau cuộc “Chỉnh lý” ngày 30 tháng 1, từ Washington trở lại Sài Gòn, Conein được chỉ định làm phụ tá không chính thức cho Nguyễn Khánh.

    Theo Phillips, Conein là người đầu tiên biết Khánh chuẩn bị thảo hiến pháp mới, sau này gọi là “Hiến chương Vũng Tàu”. Một hôm vào tháng Bảy (64), Lou thấy một Thiếu tá làm việc tại Tổng Tham Mưu, cắm cúi với chồng sách trên bàn, gồm hiến pháp Mỹ, Pháp, và một bản hiến pháp Đệ nhất Cộng hòa. Ông cho biết đang thảo một hiến pháp cho Khánh. Hỏi có kinh nghiệm gì về luật hiến pháp không, ông nhún vai trả lời: “không!” Thấy lạ, Conein báo cho tòa Đại sứ biết, nhưng không có động tĩnh gì.

    Họp với Khánh tại Vũng Tầu, Đại sứ Taylor chỉ trích hiến chương, cả về hình thức và nội dung. Đi với Khánh trên đường ra Vũng Tầu, Conein đề nghị Khánh dẹp chuyện hiến chương, nhưng Khánh không nghe. Trong phiên họp Hội đồng Quận đội Cách mạng, Conein là người Mỹ duy nhất hiện diện. Vừa về Sài Gòn công bố Hiến chương, Khánh đã bị phản đối ồn ào, từ mọi phía. Khánh nhờ Conein yêu cầu Tướng Taylor ra tuyên bố ủng hộ. Taylor thẳng tay từ chối, nói các cuộc biểu tình phản đối là do lỗi của Khánh. Được Conein báo thái độ của Taylor, Khánh nổi giận. Conein bị kẹt giữa hai tướng khó tính, và có nhiệm vụ tường thuật trung thực những lời chửi rủa ông nọ dành cho ông kia.

    Bị đả đảo, giận Mỹ không ủng hộ, Khánh bỏ lên Đà Lạt nằm, còn bị đài VOA loan tin là ông trong tình trạng khủng hoảng tinh thần. Khánh gọi Conein lên Đà Lạt ngay, để nghe ông ta chửi Taylor thậm tệ. Chửi, còn ra lệnh cho Conein trở về nói lại cho Taylor nguyên văn những gì ông ta nói, kể cả những điều tục tằn, như “espèce de con”. Conein cẩn thận viết lời của Khánh xuống giấy, rồi hỏi lại có đúng ông ta muốn chuyển đi nguyên văn không. Trả lời đúng.

    Tại Sài Gòn, sau khi đọc lời chửi của Khánh, Taylor giận dữ hỏi Conein “Anh có chắc hiểu rõ tiếng Pháp không?” Taylor bay ngay lên Đà Lạt đề đương đầu với Khánh, nhưng máy bay không đáp xuống được vì thời tiết xấu. Hôm sau, Taylor gặp Khánh thì Khánh đã nguôi giận, tỏ ra rất lịch sự với Taylor. Trong khi ấy, người thân của Khánh đã cho ký giả báo New York Herald Tribune biết chuyện Khánh chửi Taylor. Đọc báo xong, Taylor ra lệnh cho Conein không được liên lạc với Khánh nữa, và anh phải rời Việt Nam trong 30 ngày.

    Sau khi gặp Taylor, Conein nhận được điện thoại từ Sam Wilson của USOM ở Quân khu IV, nói Tướng Dương Văn Đức đang chuẩn bị đảo chánh chống Khánh, hỏi Conein có giúp được gì không. Conein quen Đức từ chiến dịch tiếp thu Cà Mau năm 1955, bèn gọi cho Đức bảo đừng đảo chánh, tội nặng lắm đấy. Đức hứa sẽ thôi. Nhưng Taylor biết được, thay vì khen Conein, đã ra lệnh cho anh phải rời Việt Nam ngay trong vòng 8 tiếng. Trên đường về Mỹ, khi Conein đang ở Hong Kong ngày 13 tháng 9, các tướng Đức và Phát vẫn kéo quân vào Sài Gòn, nhưng thay vì đảo chánh, gọi là “biểu dương lực lượng”.

    Năm 1965, thời chính quyền Thiệu-Kỳ, Lansdale lại được cử qua giúp Việt Nam. Cả nhóm cộng tác cũ, trong đó có Phillips và Conein, cùng trở lại với Lansdale. Lại có thêm sự nhập bọn của một nhân vật sau này nổi tiếng trong vụ tiết lộ tài liệu mật Bộ quốc phòng là Daniel Ellsberg. Nhưng lần tái hồi này, nhóm của Lansdale đã không tạo được phép lạ nào. Lansdale rời hẳn Việt Nam vào tháng Sáu 1968. Conein cũng thôi làm cho CIA từ năm 1968, trở thành một doanh nhân tại Việt Nam, buôn bán quân trang quân dụng thặng dư. Nhưng không thành công.

    Trở về Mỹ, năm 1970 Lucien Conein được một người quen từ hồi OSS là Howard Hunt giới thiệu với Tổng thống Nixon. Năm 1971, Hunt muốn Conein nhập bọn đám “Thợ ống nước” (Plumbers), là nhóm chuyên làm những việc mờ ám để củng cố địa vị của Nixon đã chủ mưu và bị bắt trong vụ Watergate 1972. Nhưng Conein từ chối. Sau này, Conein nói với Stanley Karnow, tác giả quyển Vietnam: A History rằng “Nếu có tôi can dự, thì chúng tôi đã làm hẳn hoi”.

    Từng là người có nhiều liên hệ với Corsican Brotherhood, một tổ chức nổi tiếng trong lãnh vực buôn ma túy, năm 1973 Nixon đã cho Conein điều khiển cơ sở đặc biệt chống ma túy (Chief of Special Operations for Drug Enforcement Administration).

    Karnow cho biết ông đã bỏ ra 70 giờ phỏng vấn Conein, cho dự tính viết một cuốn tiểu sử ông ta, nhưng dự án đành phải bỏ, khi thấy Conein giống như Ashenden, một nhân vật gián điệp Anh trong tiểu thuyết của Somerset Maugham, một người can dự quá nhiều vào các điệp vụ phiêu lưu, đến nỗi không thể phân biệt được đâu là sự thật với vai trò của mình trong nghề nghiệp.

    Lucien Conein qua đời đầu tháng 6 năm 1998. Vào dịp này, trong bài báo trên tờ New York Times ngày 7-6, Tim Weiner viết: “Ông Conein cho các đồng nghiệp và mấy người bạn nhà báo biết rằng ông từng phục vụ trong đạo quân Lê Dương của Pháp (French Foreign Legion), điều này có thể đúng mà cũng có thể không, và rằng ông mất hai ngón tay trong một mật vụ nguy hiểm. Thật ra, ông mất chúng trong khi sửa máy chiếc xe chở ông và vợ một người bạn thân đi mùi mẫn, như vậy, câu truyện cũng dựa trên sự thật.”

    Có người còn thất vọng là trước khi qua đời, Conein đã không thú nhận vai trò của mình trong vụ ám sát Tổng thống Kennedy. Sở dĩ có chuyện này, vì trong một bức ảnh chụp Tổng thống Kennedy trước khi ông bị ám sát, có một khuôn mặt giống hệt Conein. Chuyện này, mãi mười năm sau khi Conein qua đời mới được làm sáng tỏ: người ta tìm ra người có khuôn mặt giống Conein trong hình.

    Về già, sau một lần bị đột quỵ, Conein đi lại khó khăn, phải chống gậy, nhưng đầu óc tương đối còn minh mẫn–minh mẫn theo kiểu Conein, mọi sự ông nói ra đều gần đúng. Trong phần “Lời cuối” (Epilogue) của cuốn Facing the Phoenix, tác giả Zalin Grant viết, đối với Conein “hạnh phúc tuyệt vời là được ngồi tại căn nhà ngoại ô ở Virginia mà không phải làm gì cả.” Conein cho Grant biết ông dùng thì giờ đọc Thánh kinh (Bible) từ đầu tới cuối. Được hỏi về sự nổi tiếng, phần nhiều là tiếng xấu, Conein nói: “Tôi đếch cần những gì bọn chó đẻ viết về tôi. Bây giờ, chẳng đứa nào còn có thể làm hại tôi…”

    Lucien Conein được an táng theo lễ nghi trọng thể tại nghĩa trang quân đội Arlington vào ngày quốc khánh Pháp 14 tháng 7, cũng là nơi an nghỉ của John Kennedy, người đã cho ông vai trò quan trọng trong biến cố 1-11-63.

    Đinh Từ Thức

    One comment

    1. Pingback: Mục Lục ovv | Chiêu Anh Quán

    Gửi phản hồi

    Please log in using one of these methods to post your comment:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

    Google+ photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

    Connecting to %s