Pleime: Trận Tử Chiến Của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng


Trại biên phòng Pleime cách Pleiku khoảng 50 km về hướng tây-nam, được thành lập từ tháng 10 năm 1963. Từ khi thành lập cho đến cuối năm 1974,…căn cứ này đã nhiều lần bị Cộng quân tập trung lực lượng tấn công để cố chiếm căn cứ trọng yếu này nhưng đều bị đẩy lui. Một số trận giao tranh đã đi vào chiến sử như trận đánh vào tháng 10 năm 1965. Theo tài liệu của đặc san Mũ Nâu và tài liệu của Trung Tâm Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ, trận chiến này được ghi nhận như sau.

Ngày 19 tháng 10/1965, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B-3 Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) đã điều động hai trung đoàn 32 và 33 chủ lực tấn công vào căn cứ Pleime. Trung Đoàn 33 CSBV là lực lượng tấn công chính, Trung Đoàn 32 là lực lượng phụ trợ có nhiệm vụ chận đánh lực lượng tăng viện của liên quân Việt-Mỹ. Với chiến thuật tiền pháo hậu xung thường áp dụng trong các trận tấn công cường tập, Cộng quân đã mở trận hỏa công pháo dữ dội vào căn cứ. Ngay sau khi trận chiến xảy ra, lực lượng tăng viện Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được điều khẩn để tiếp cứu nhưng bị trung đoàn 32 CSBV phục kích. Giao tranh diễn ra ác liệt, đến ngày 23 tháng 10/1965, lực lượng tăng viện VNCH chọc thủng vòng vây của Cộng quân và tiến vào tiếp cứu quân trú phòng trong căn cứ, Trung Đoàn 33 CSBV bị đánh bật sau một tuần liên tiếp tấn công.

Đầu tháng 11 năm 1965, một chiến đoàn Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) phối hợp với Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ tung cuộc hành quân tảo thanh các đơn vị của Trung Đoàn 32, 33 và 66 CSBV còn nguyên vẹn quanh khu vực gần trại Pleime, trong thung lũng Ia-Drang, khu vực dãy núi Chu Pong. Sau hai tuần liên tục truy kích, lực lượng Việt-Mỹ đã loại khỏi vòng chiến 465 cán binh Cộng Sản, bắt sống 15 tù binh và tịch thu 70 vũ khí đủ loại.

TIỂU ĐOÀN 82 BIỆT ĐỘNG QUÂN BIÊN PHÒNG VÀ TRẬN CHIẾN NĂM 1974

Tháng 10/1970, theo kế hoạch chung của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH và Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam, trại Pleime được chuyển giao cho Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân (BĐQ) Biên Phòng được thành lập với quân số của Biệt Kích quân cải tuyển sang Biệt Động Quân. Sau đó, tiểu đoàn được bổ sung một số sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ do Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân thuộc Quân Khu 2 điều hành.

Tháng 4 năm 1974, sau khi đã tung quân lấn chiếm và kiểm soát khu vực gần căn cứ Đức Cơ, Sư Đoàn 320B CSBV khởi động cuộc tấn công quy mô vào căn cứ Pleime. Họ điều động Trung Đoàn 48, Trung Đoàn 64, một tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn pháo phòng không để chuẩn bị cuộc tấn công. Trước tình hình đó, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đã khẩn cấp điều động hai trung đoàn của Sư Đoàn 22 Bộ Binh (BB) tăng viện cho mặt trận Pleime, trong đó Trung Đoàn 42 được tăng cường cho Căn Cứ Hỏa Lực 711 và khu vực kế cận.

Cùng với sự tăng viện của 2 trung đoàn Bộ Binh, Không Quân VNCH tại cao nguyên đã tiến hành nhiều phi tuần oanh tạc vào các vị trí đóng quân của các đơn vị Cộng quân. Sự can thiệp nhanh chóng của lực lượng VNCH đã ngăn chận và vô hiệu hóa kế hoạch đánh chiếm Pleime của Bắc Việt. Đến tháng 5/1974, lực lượng VNCH đã làm chủ khu vực quanh căn cứ này.

Sau khi tình hình quanh Pleime tạm lắng dịu, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đã cho lệnh Sư Đoàn 22 BB rút hai trung đoàn về lại tỉnh Bình Định, do đó Cộng quân đã tận dụng cơ hội mở cuộc tấn công vào Pleime. Lực lượng trú phòng vào thời gian này gồm có 4 đại đội tác chiến của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân và một đại đội của Tiểu Đoàn 81 Biệt Động Quân tăng phái. Các đại đội Biệt Động Quân khai triển lực lượng tổ chức phòng thủ các tuyến trung tâm căn cứ và hai tiền đồn Chu Ho và Đồi 509.

Trong khi hoạt động bên ngoài căn cứ, Đại Đội 2/81 đã bị Cộng quân tấn công bất thần, đại đội này đã chống trả dũng mãnh nhưng trước một lực lượng địch đông gấp 5, cuối cùng đại đội phải rút vào Căn Cứ với 22 chiến binh vào được bên trong trước khi Cộng quân bao vây và phong tỏa các thông lộ ra vào căn cứ.

Trong trận tấn công vào căn cứ Pleime lần này, quân Bắc Việt đã sử dụng 4 tiểu đoàn thuộc hai trung đoàn 9 và 48 CSBV, tăng cường Trung Đoàn 26 biệt lập của Mặt Trận B-3. Sau đó Bắc Việt lại tung vào trận chiến Trung Đoàn 64 CSBV để mở các trận tấn công biển người vào căn cứ này. Họ sử dụng đủ các loại pháo 130 ly, 120 ly, và súng cối 82 ly pháo kích. Trong khi đó, tiểu đoàn pháo phòng không của Bắc Việt cũng bố trí 12 vị trí đặt đại liên phòng không 12.7-ly để bắn trực thăng tiếp tế và tải thương, cũng như để chống trả các đợt không tập của Không quân VNCH.

Sau 6 ngày đêm tử chiến, tiền đồn Chu Ho thất thủ. Năm ngày sau đó, 10 tháng 8/1974, đến lượt tiền cứ Đồi 509 bị Cộng quân tràn ngập. Các chiến binh sống sót tại hai căn cứ nói trên đã vượt thoát vào rừng và tự mưu sinh thoát hiểm trong hoàn cảnh vô cùng bi tráng: hết đạn, không có thức ăn và nước uống trong những ngày tử chiến với Cộng quân.

Sau khi đã đánh chiếm 2 tiền cứ Chu Hô và Đồi 509, Cộng quân đã tập trung lực lượng tấn công vào khu trung tâm căn cứ Pleime. Tiểu Đoàn 82 BĐQ đã bị bao vây trong một tháng, không nhận được tiếp tế lương thực, thuốc men và đạn dược. Chiến đấu trong một tình thế nguy kịch, thế nhưng cả tiểu đoàn đã giữ vững được tuyến phòng ngự.

Đến ngày 2 tháng 9/1974, Quân đoàn 2 điều động lực lượng tăng viện gồm Bộ Binh, Biệt Động Quân và Thiết Giáp trong nỗ lực tiếp cứu căn cứ Pleime. Các đơn vị thuộc Sư Đoàn 320 Bắc Việt bắt đầu bị đánh bật sau 20 lần tấn công bất thành vào căn cứ. Riêng Tiểu Đoàn 82 BĐQ sau khi nhận được tiếp tế và tái tổ chức đơn vị và tổ chức phản công tái chiếm 2 tiền đồn Chu Ho và Đồi 509.

LƯỢC TRÌNH VỀ 12 TIỂU ĐOÀN BIỆT ĐỘNG QUÂN BIÊN PHÒNG

Trước năm 1970 tại Vùng 2 Chiến thuật (từ tháng 8/1970 đã được đổi thành Quân Khu 2) có 15 trại biên phòng do các tiểu đoàn Dân Sự Chiến Đấu (DSCĐ) thuộc Lực Lượng Đặc Biệt phòng thủ. Đến tháng 5/1970, như đã trình bày, theo kế hoạch của liên quân Việt-Mỹ, Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ được lệnh thực hiện đợt cải tuyển cho các trại biên phòng. Binh đoàn này được lệnh chấm dứt các hoạt động biệt kích trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời chuyển các đơn vị Dân Sự Chiến Đấu sang binh chủng Biệt Động Quân để thành lập các tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên phòng. Theo quy trình và phương thức hoán chuyển, trong vòng 90 ngày kể từ có quyết định cải tuyển, các trại Dân Sự Chiến Đấu được tổ chức theo cơ cấu tiểu đoàn Biệt Động Quân gồm 3 đại đội chiến đấu, 1 đại đội chỉ huy và Ban Chỉ Huy Tiểu Đoàn.
Ngày 31 tháng 8/1970, trong đợt chuyển-giao đầu tiên, một số trại Dân Sự Chiến Đấu gần biên giới được biến cải danh xưng như sau:

· Trại Polei Kleng (Căn Cứ A-241), tỉnh Kontum, chuyển thành Tiểu Đoàn 62 BĐQ Biên Phòng với quân số 403 người.

· Trại Plei Mrong (Căn Cứ A-113), tỉnh Pleiku, chuyển thành Tiểu Đoàn 63 BĐQ Biên Phòng với quân số 443 chiến binh.

· Trại Tieu Atar (Căn Cứ A-231), tỉnh Darlac, chuyển thành Tiểu Đoàn 71 BĐQ Biên Phòng với quân số 414 chiến binh.

· Trại Trang Phúc (Căn Cứ A-223), tỉnh Darlac, chuyển thành Tiểu Đoàn 72 BDQ Biên Phòng với quân số 399 chiến binh.

· Trại Plei Djereng (Căn Cứ A-251), tỉnh Pleiku, chuyển thành Tiểu Đoàn 80 BĐQ Biên Phòng với quân số 479 chiến binh.

· Trại Đức Cơ (Căn Cứ A-253), tỉnh Pleiku, chuyển thành Tiểu Đoàn 81 BĐQ Biên phòng với quân số 457 chiến binh.

· Trại Pleime (Căn Cứ A-255), tỉnh Pleiku, chuyển thành Tiểu Đoàn 82 BĐQ Biên Phòng với quân số 464 chiến binh.

· Trại Bu Prang (Căn Cứ A-236), tỉnh Quảng Đức, chuyển thành Tiểu Đoàn 89 BĐQ Biên Phòng với quân số 377 chiến binh.

· Trại Dak Pek (Căn Cứ A-242), tỉnh Kontum, chuyển thành Tiểu Đoàn 88 BĐQ Biên Phòng với quân số 298.

· Trại Dak Seang (Căn Cứ A-245), tỉnh Kontum, chuyển thành Tiểu Đoàn 90 BĐQ Biên Phòng với quân số 431 chiến binh.

Ngày 31 tháng 12/1970, trong đợt chuyển giao thứ hai, một số trại đã được biến cải danh xưng như sau:

· Trại Ben Het (Căn Cứ A-244), tỉnh Kontum, chuyển thành Tiểu Đoàn 95 BĐQ Biên Phòng với quân số 430 chiến binh.

· Trại Đức Lập (Căn Cứ A-239), tỉnh Quảng Đức, chuyển thành Tiểu Đoàn 96 BĐQ Biên Phòng với quân số 400 người.

Có 3 trại đóng cửa và chấm dứt hoạt động: Trại Kontum (Căn Cứ B-24) đóng cửa ngày 30 tháng 11/1970. Trại Ban Mê Thuột (Căn Cứ B-23), đóng cửa ngày 15 tháng 12/1970. Và trại Pleiku (Company B), đóng cửa ngày 15 tháng 1/1971.

Vương Hồng Anh

Nguồn :QuanVan.net

Advertisements

One comment

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s